MỞ ĐẦU Khi thế giới bước vào kỉ nguyên của Internet, thiết bị di động và truyền tải băng thông rộng thì có rất nhiều công nghệ mới được nghiên cứu, thử nghiệm và đi vào sử dụng. Trong vài năm gần đây, một công nghệ mới được giới thiệu- WiMAX (Worldwide Interoperability for Microwave Access)- tên thương mại của chuẩn 802.16- có nghĩa là khả năng tương tác toàn cầu với viba đã tạo ra sự quan tâm rất lớn với những nhà chuyên môn và các cơ quan chuyên ngành. Là một công nghệ vô tuyến tiên tiến, WiMAX có những đặc điểm vượt trội như là khả năng truyền dẫn tốc độ cao, chất lượng dịch vụ tối, an ninh đảm bảo, dễ dàng lắp đặt, chi phí thấp … chính vì vậy sự phát triển nhanh chóng của WiMAX là một tất yếu. Công nghệ WiMAX ngày càng được hoàn thiện thông qua việc liên tục đưa ra những tiêu chuẩn phù hợp với nhiều lĩnh vực kinh doanh trên thị trường như là thiết bị di động, thiết bị cầm tay,… Phát triển chất lượng dịch vụ QoS là một trong những ưu tiên hàng đầu trong công nghệ WiMAX.
Để hỗ trợ nhiều loại hình dịch vụ với các yêu cầu khác nhau, về QoS, các tiêu chuẩn của WiMAX đã đưa ra nhiều thuật toán lập lịch nhằm hỗ trợ các loại hình dịch vụ này. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi giới thiệu và thảo luận một số thuật toán lập lịch gói tin thông dụng được sử dụng trong hệ thống WiMAX, đồng thời cũng đi sâu phân tích và đánh giá các thuật toán lập lịch hỗ trợ cho dịch vụ VoIP. Luận văn được tổ chức thành các phần như sau: Chƣơng 1: Giới thiệu tổng quan về công nghệ WiMAX. Nhằm đưa ra các thông tin cơ bản như lịch sử hình thành, các tiêu chuẩn, ưu khuyết điểm của hệ thống WiMAX.
Chƣơng 2: Phân tích chi tiết giao thức, các tổ chức phân lớp cũng như cách thức hoạt động của WiMAX. Chƣơng 3: Giới thiệu và đánh giá một số thuật toán lập lịch được hỗ trợ trong công nghệ WiMAX. Chƣơng 4: Phân tích, so sánh, đánh giá các thuật toán lập lịch hỗ trợ cho dịch vụ VoIP trong hệ thống tiêu chuẩn IEEE 802. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG NGHỆ WIMAX 1.1 Lịch sử, quá trình phát triển.
Chúng ta đã biết đến các công nghệ truy nhập Internet phổ biến hiện nay như quay số qua Modem thoại, ADSL, hay các đường thuê kênh riêng, hoặc sử dụng các hệ thống vô tuyến như điện thoại di động, hay mạng WiFi. Mỗi phương pháp truy cập mạng có đặc điểm riêng. Đối với Modem thoại thì tốc độ quá thấp, ADSL tốc độ có thể lên đến 8Mbit/s nhưng cần có đường dây kết nối, các đường thuê kênh riêng thì giá thành đắt mà không dễ dàng triển khai đối với các khu vực có địa hình phức tạp. Hệ thống thông tin di động hiện tại cung cấp tốc độ truyền 9,6Kbit/s quá thấp so với nhu cầu người sử dụng, ngay cả các mạng thế hệ sau GSM như GPRS (2.5G) cho phép truy cập ở tốc độ lên đến 171,2Kbit/s hay EDGE khoảng 300-400Kbit/s cũng chưa thể đủ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng khi sử dụng các dịch vụ mạng Internet.
Ở hệ thống di động thế hệ tiếp theo 3G thì tốc độ truy cập Internet cũng không vượt quá 2Mb/s. Với mạng WiFi (chính là mạng LAN không dây) chỉ có thể áp dụng cho các máy tính trao đổi thông tin với khoảng cách ngắn. Với thực tế như vậy, WiMax (viết tắt của từ Worldwide Interoperability for Microwave Access) ra đời nhằm cung cấp một phương tiện truy cập Internet không dây tổng hợp có thể thay thế cho ADSL và WiFi. Hệ thống WiMax có khả năng cung cấp đường truyền với tốc độ lên đến 70Mb/s và với bán kính phủ sóng của một trạm anten phát lên đến 50 km.
WiMAX là tiêu chuẩn IEEE 802.16 cho việc kết nối Internet băng thông rộng không dây ở khoảng cách lớn. Đây là kỹ thuật viễn thông cung cấp việc truyền dẫn không dây ở khoảng cách lớn bằng nhiều cách khác nhau, từ kiểu kết nối điểm - điểm cho tới kiểu truy nhập tế bào. Dựa trên các tiêu chuẩn IEEE 802.16, còn được gọi là WirelessMAN, WiMAX cho phép người dùng có thể duyệt Internet trên máy laptop mà không cần kết nối vật lý bằng cổng Ethernet tới router hoặc switch. Tên WiMAX do WiMAX Forum tạo ra, bắt đầu từ tháng 6 năm 2001 đề xướng việc xây dựng một tiêu chuẩn cho phép kết nối giữa các hệ thống khác nhau.
Diễn đàn này cũng miêu tả WiMAX là "tiêu chuẩn dựa trên kỹ thuật cho phép chuyền dữ liệu không dây băng thông rộng giống như với cáp và DSL." Khoá họp Hội đồng thông tin vô tuyến 2007 (RA-07) của Liên minh viễn thông thế giới (ITU), được tổ chức tại Gennève, Thụy Sĩ từ ngày 15-19/10/2007, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 đã thông qua việc bổ sung giao diện vô tuyến OFDMA TDD WMAN (WiMAX di động) vào họ giao diện vô tuyến IMT-2000 (thường vẫn được biết dưới tên 3G). Chuẩn IMT-2000 hiện có 5 giao diện vô tuyến CDMA Direct Spread (thường được biết dưới tên WCDMA), CDMA Multi-Carrier ( thường được biết dưới tên CDMA 2000), CDMA TDD, TDMA Single-Carrier, FDMA/TDMA. Sau khi được bổ sung, chuẩn giao diện OFDMA TDD WMAN sẽ là chuẩn giao diện vô tuyến thứ 6 của họ IMT-2000. Các chỉ tiêu về đặc tính phát xạ (phát xạ giả, phát xạ ngoài băng) của các trạm thu phát (BTS) và máy di động (MS) của WiMAX di động cũng đã được bổ sung vào các chuẩn hiện áp dụng cho IMT-2000.2 WiMax hoạt động nhƣ thế nào? Thực tế WiMax hoạt động tương tự WiFi nhưng ở tốc độ cao và khoảng cách lớn hơn rất nhiều cùng với một số lượng lớn người dùng.
Một hệ thống WiMax gồm 2 phần: - Trạm phát: giống như các trạm BTS trong mạng thông tin di động với công suất lớn có thể phủ sóng một vùng rộng tới 8000km2. - Trạm thu: có thể là các anten nhỏ như các Card mạng cắm vào hoặc được thiết lập sẵn trên Mainboard bên trong các máy tính, theo cách mà WiFi vẫn dùng Các trạm phát BTS được kết nối tới mạng Internet thông qua các đường truyền tốc độ cao dành riêng hoặc có thể được nối tới một BTS khác như một trạn trung chuyển bằng đường truyền thẳng (line of sight), và chính vì vậy WiMax có thể phủ sóng đến những vùng rất xa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Mô hình truyền thông của WiMAX. Các anten thu/phát có thể trao đổi thông tin với nhau qua các tia sóng truyền thẳng hoặc các tia phản xạ.
Trong trường hợp truyền thẳng, các anten được đặt cố định trên các điểm cao, tín hiệu trong trường hợp này ổn định và tốc độ truyền có thể đạt tối đa. Băng tần sử dụng có thể dùng ở tần số cao đến 66GHz vì ở tần số này tín hiệu ít bị giao thoa với các kênh tín hiệu khác và băng thông sử dụng cũng lớn hơn. Đối với trường hợp tia phản xạ, WiMax sử dụng băng tần thấp hơn, 2- 11GHz, tương tự như ở WiFi, ở tần số thấp tín hiệu dễ dàng vượt qua các vật cản, có thể phản xạ, nhiễu xạ, uốn cong, vòng qua các vật thể để đến đích.3 Các đặc điểm của WiMax WiMax đã được tiêu chuẩn hoá ở IEEE 802. Hệ thống này là hệ thống đa truy cập không dây sử dụng công nghệ OFDMA có các đặc điểm sau [1]: Khoảng cách giữa trạm thu và phát có thể tới 50km.
Tốc độ truyền có thể thay đổi, tối đa 70Mbit/s. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Hoạt động trong cả hai môi trường truyền dẫn: đường truyền tầm nhìn thẳng LOS (Line of Sight) và đường truyền che khuất NLOS (Non line of sight). Dải tần làm việc 2-11GHz và từ 10-66GHz hiện đã và đang được tiêu chuẩn hoá. Trong WiMax hướng truyền tin được chia thành hai đường lên và xuống.
Đường lên có tần số thấp hơn đường xuống và đều sử dụng công nghệ OFDM để truyền. OFDM trong WiMax sử dụng tổng cộng 2048 sóng mang, trong đó có 1536 sóng mang dành cho thông tin được chia thành 32 kênh con mỗi kênh con tương đương với 48 sóng mang. WiMax sử dụng điều chế nhiều mức thích ứng từ BPSK, QPSK đến 256-QAM kết hợp các phương pháp sửa lỗi dữ liệu như ngẫu nhiên hoá, với mã hoá sửa lỗi Reed Solomon, mã xoắn tỷ lệ mã từ 1/2 đến 7/8. Độ rộng băng tần của WiMax từ 5MHz đến trên 20MHz được chia thành nhiều băng con 1,75MHz.
Mỗi băng con này được chia nhỏ hơn nữa nhờ công nghệ OFDM, cho phép nhiều thuê bao có thể truy cập đồng thời một hay nhiều kênh một cách linh hoạt để đảm bảo tối ưu hiệu quả sử dụng băng tần. Công nghệ này được gọi là công nghệ đa truy nhập OFDMA (OFDM access). Cho phép sử dụng cả hai công nghệ TDD (Time Division Duplexing) và FDD (Frequency Division Duplexing) cho việc phân chia truyền dẫn của hướng lên (Uplink) và hướng xuống (Downlink). Về cấu trúc phân lớp, hệ thống WiMax được phân chia thành 4 lớp : Lớp con hội tụ (Convergence) làm nhiệp vụ giao diện giữa lớp đa truy nhập và các lớp trên, lớp đa truy nhập (MAC layer), lớp truyền dẫn (Transmission) và lớp vật lý (Physical).
Các lớp này tương đương với hai lớp dưới của mô hình OSI và được tiêu chuẩn hoá để có thể giao tiếp với nhiều ứng dụng lớp trên như mô tả ở hình dưới đây. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Mô hình phân lớp trong hệ thống WiMax so sánh với OSI 1. Các tiêu chuẩn của WiMAX Chuẩn IEEE 802.16: ban đầu được tạo ra với mục đích tạo ra những giao diện không dây dựa trên một nghi thức MAC (Media Access Control) chung. Kiến trúc cơ bản của hệ thống theo chuẩn IEEE 802.16 bao gồm một trạm gốc BS (Base Station) và các thuê bao SS (Subcriber Station).
Trong vùng phủ sóng của mình, trạm gốc BS sẽ điều khiển toàn bộ quá trình truyền dữ liệu. Điều này có nghĩa là sẽ không có sự trao đổi trực tiếp giữa hai trạm thuê bao với nhau. Quá trình kết nối giữa BS và SS bao gồm một kênh gửi lên (Uplink) và một kênh gửi xuống (Downlink). Kênh Uplink được chia sẻ cho nhiều thuê bao, trong khi đó kênh Downlink sẽ được gửi quảng bá (Broadcast).
Trong trường hợp không có vật cản giữa thuê bao và trạm gốc (line of sight), thông tin sẽ được truyền trên băng tần cao, ngược lại băng tần thấp sẽ được sử dụng nhằm tăng khả năng chống nhiễu.16a: tiêu chuẩn này được xác định hoạt động trong dải tần từ 2Ghz cho tới 11 GHz.