MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Động vật không xương sống nói chung, động vật Thân mềm Chân bụng (Mollusca: Gastropoda) nói riêng vô cùng đa dạng về hình thái, tập tính, sinh lý, kích thước và môi trường nên thích nghi với nhiều điều kiện môi trường sống khác nhau [1]. Tuy nhiên, điều tra về thành phần loài, đặc trưng phân bố, quá trình tiến hóa và đặc biệt là ý nghĩa thực tiễn ở nước ta còn ít. Về sinh thái, Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) ở cạn khá phong phú, chúng ăn lá cây và mùn bã hữu cơ.
Đồng thời, chính bản thân chúng là thức ăn của nhiều loài động vật có xương sống, đóng vai trò là mắt xích trong các chuỗi và lưới thức ăn, góp phần quan trọng trong phân hủy mùn bã hữu cơ trong chu trình tuần hoàn vật chất [2]. Về tiến hóa, nghiên cứu Thân mềmChân bụng trong lịch sử tiến hóa chủ yếu dựa vào nghiên cứu vỏ Thân mềm hóa thạch ở một vùng nào đó, từ đó tìm hiểu được những thông tin về trầm tích, điều kiện môi trường sống [3]. Về thực tiễn, Thân mềm Chân bụng mang lại nhiều giá trị nổi bật. Đối với môi trường, các loài ốc sống trong lớp thảm mục trên mặt đất góp phần cải tạo đất trồng.
Đối với con người, Chân bụng được xác định là thực phẩm chứa hàm lượng chất dinh dưỡng cao, nhiều loài ốc được sử dụng làm thức ăn, cung cấp chất dinh dưỡng và có giá trị kinh tế cao: ốc núi (Cyclophorus martensianus), Ốc sên hoa (Achatina fulica). Trong y học, ốc được dùng làm dược liệu, nhớt của Ốc sên có thể dùng để kem dưỡng da. Ngoài ra, vỏ của chúng còn làm nguyên liệu cho các ngành như khảm trai, hàng mĩ nghệ.Tuy vậy, bên cạnh mặt có lợi thì nhiều loài cũng gây hại đáng kể cho đời sống con người như ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata) phá hoại mùa màng[4] và gây bệnh viêm màng não cho con người. Thân mềm Chân bụng trên cạn được coi như là sinh vật chỉ thị cho tình trạng thay đổi của môi trường do có những đặc tính như ít di chuyển, số lượng cá thể của quần thể lớn, kích thước đa dạng, mẫn cảm với những thay đổi của môi trường.
Một số loài hoàn toàn bị giới hạn trong khu vực đá vôi do chúng cần đá vôi để tạo vỏ, Luan van 2 những loài khác có thể xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau nhưng số lượng không nhiều [5]. Do đó việc điều tra, đánh giá đa dạng sinh học của Thân mềm Chân bụng trên cạn tại khu vực trong mối quan hệ với môi trường như sinh vật chỉ thị sẽ cũng cung cấp những nhận xét về sự tác động của môi trường đến hình thái, kích thước của những loài phổ biến, đặc hữu ở khu vực nghiên cứu. Phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững vùng cảnh quan có nhiều tiềm năng về đa dạng sinh học và tham quan du lịch. Thành phố Cẩm Phả là một trong bốn thành phố của tỉnh Quảng Ninh, nơi đây có hệ sinh thái đa dạng với dãy núi đá vôi ở Tây Nam thành phố - nơi bị chia cắt bởi khu dân cư, phía Nam là rừng ngập mặn trên bờ Vịnh Bái Tử Long, vùng đồi núi có độ cao trung bình chạy dài theo hướng Đông Bắc, ngoài ra còn nhiều hệ sinh thái nhân tác khác.
Đây còn là khu vực chuyển tiếp giữa khu hệ động vật của Trung Quốc, Đông Dương và mở rộng tới phía Nam Thái Lan tới Malaysia, Indonexia [6]. Với những điều kiện về khí hậu ẩm ướt, đa dạng về địa hình cũng như hệ sinh thái, Cẩm Phả mang giá trị đa dạng sinh học cao về Thân mềm Chân bụng trên cạn. Thành phố Cẩm Phả nằm trong vùng vịnh Hạ Long - một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới, nổi bật với các giá trị về cảnh quan, địa chất, địa mạo. Việc thực hiện đề tài với mục tiêu cung cấp đầy đủ danh mục các loài ốc cạn, đặc điểm nhận dạng, đặc trưng phân bố là góp phần làm phong phú hơn giá trị đa dạng sinh học cho vịnh Hạ Long.
Các nghiên cứu về đa dạng sinh học của Thân mềm chân bụng (Gastropoda) trên cạn tại khu vực Cẩm Phảcòn ít. Nghiên cứu của Vermulen và Massen (2003) đã đề cập được 178 loài ốc nước ngọt và ốc cạn khác nhau, trong đó có 83 loài (chiếm 46,6%) chỉ xác định tới giống [5]. Hơn thế nữa, việc nghiên cứu của tác giả được tiến hành trên một phạm vi rộng và chưa rõ địa điểm thu mẫu.Do đó nếu nghiên cứu được thực hiện, sẽ bổ sung cho các nghiên cứu trước đó về đa dạng sinh học của Thân mềm Chân bụng trên cạn, cũng như là cơ sở để so sánh đối chiếu cho các nghiên cứu về sau. Luan van 3 Vì tính cấp thiết trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài này:“Điều tra, đánh giá thành phần loài và đặc điểm phân bố của Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) trên cạn tại thành phố Cẩm phả, tỉnh Quảng Ninh” 2.
Mục tiêu nghiêncứu - Có được kết quả đầy đủ về đa dạng sinh học của Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) trên cạn,và đặc điểm phân bố qua các sinh cảnh khác nhau. - Tìm hiểu các giá trị thực tiễn của ốc cạn, từ đó đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học loài tại khu vực nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu - Xác định thành phần loài Thân mềm Chân bụng trên cạn tại khu vực nghiên cứu. - Đánh giá các đặc trưng về số lượng loài, loài đặc trưng, loài đặc hữu, cấu trúc thành phần loài, các chỉ số đa dạng sinh học, loài có giá trị, loài gây hại.
- Xác định đặc điểm phân bố theo thảm thực vật, thổ nhưỡng. - Mô tả đặc điểm hình thái ngoài của Thân mềm Chân bụng trên cạn tại khu vực nghiên cứu. - Xác định các giá trị của Thân mềm Chân bụng - Tìm hiểu về tình trạng khai thác cũng như công tác quản lý đa dạng sinh học tại khu vực thông qua phiếu điều qua nhà quản lý (5 phiếu) và người dân địa phương (50 phiếu) Luan van 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về địa điểm nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Thành phố Cẩm Phả nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 200 km về phía Đông Bắc, cách trung tâm thành phố Hạ Long 30 km, có toạ độ địa lý: 20o58'10 - 21o12' N, 107o10' - 107o23'50 E. Phía Đông của thành phố giáp với huyện Vân Đồn, phía Tây giáp huyện Hoành Bồ và thành phố Hạ Long, phía Nam giáp vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long, và phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ và huyện Tiên Yên (hình 1.1) Luan van 5 Hình 1. Bản đồthành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Luan van 6 1.
Điều kiện tự nhiên Địa hình Địa hình khu vực Cẩm Phả đa dạng. Diện tích đồi núi chiếm 55,4% (trong đó núi đá vôi chiến 2.590ha, tập trung ở khu vực phía Tây Nam thành phố), diện tích vùng trung du chiếm 16,29% phân bố rải rác, vùng thấp ven biển chiến 15,1% và địa hình ven biển chiếm 13,3%. Ngoài ra Cẩm Phả còn có hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ tại vinh Bái Tử Long, phần lớn là đảo đá vôi. Vùng nghiên cứu nằm trong khu vực có địa hình khá cao với dãy núi Quảng Lợi ở phía Đông có đỉnh cao trên 350m.
Phía Tây là dãy núi kéo dài từ Đèo Bụt tới trung tâm thành phố với độ cao trên 150m. Phía Bắc và Nam có địa hình thấp hơn, độ cao địa hình trung bình từ 70 đến 100m [6]. Đặc điểm địa hình địa hình lòng chảo, thấp dần từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và bị chia cắt bởi các công trường khai thác, các bãi thải và các tuyến đường mỏ, nhà máy xi măng. Với địa hình đa dạng, sẽ tạo ra những điều kiện sống khác nhau, từ đó có sự khác biệt trong phân bố các loài Thân mềm Chân bụng tại khu vực nghiên cứu.
Thổ nhƣỡng Do đặc điểm địa hình khu vực là đồi núi nên đặc điểm thổ nhưỡng chủ yếu được hình thành trong quá trình phong hóa từ đá mẹ như đất ferralit đỏ vàng trên núi. Riêng tại các khu vực khai thác than, lớp thổ nhưỡng bị biến đổi tính chất, ô nhiễm và thiếu chất dinh dưỡng, từ đó hình thành đất hoang hóa. Khí hậu Thành phố Cẩm Phả thuộc khí hậu vùng ven biển, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,7oC, dao động không lớn, từ 16,7oC đến 28,6oC.
Về mùa hè, nhiệt độ trung bình cao là 34,9oC, nóng nhất đến 38oC. Về mùa đông, nhiệt độ trung bình thấp là 13,7oC rét nhất là 5oC [7]. Lượng mưa trung bình một năm là 1832mm, phân bố không đều theo 2 mùa. Mùa hè, mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80 – 85% tổng lượng mưa cả năm.
Lượng mưa cao nhất vào tháng 8 và tháng 9, khoảng 350mm. Mùa đông Luan van 7 xuân là mùa khô, ít mưa, từ tháng 11 đến thàng 4 năm sau, chỉ đạt khoảng 15 – 20% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa ít nhất là tháng 1 và tháng 2, chỉ khoảng từ 4 – 20mm. Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 84%.
Cao nhất có tháng lên tới 90%, thấp nhất có tháng xuống đến 65%. Hệ sinh thái Trong khu vực Cẩm Phả có các kiểu sinh thái trên cạn đặc trưng như : Rừng, vùng đồi, đất khô hạn, đô thị, nông nghiệp.Trong đó rừng có sự đa dạng về thành phần loài động thực vật cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài hoang dã có giá trị kinh tế và khoa học cao. Nổi bật là hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi phía Tây Quang Hanh với chiều cao trung bình, có hệ thực vật khá phong phú: cây bụi, cây dây leo, cây thân gỗ… tạo nên sinh cảnh núi đá vôi tự nhiên và tầng thảm mục tương đối dày, có độ ẩm cao, là nơi sinh sống của nhiều loài động vật có giá trị khoa học và thực tiễn cao. Hệ sinh thái vùng đồi hiện nay hầu hết đã trở thành các công trường khai thác than với các mỏ lộ thiên và hầm lò, bãi thải.
Do vậy hệ sinh thái bị biến đổi mạng mẽ trở thành đồi núi trọc, hệ động thực vật trở nên nghèo nàn. Thực vật ở khu vực không khai thác phát triển khá nhanh về mùa mưa, mùa khô kém phát triển, có độ ẩm thấp, tầng mùn mỏng.