MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngành thân mềm (Mollusca) là một trong những ngành lớn của giới Động vật (Animalia) chỉ xếp sau Chân Khớp (Arthropoda), có nhiều chủng loại rất đa dạng, phong phú (khoảng130. Khoảng 80% trong số các loài Thân mềm đã đƣợc biết đến là Chân bụng. Đây là lớp duy nhất của ngành Thân mềm có cả đại diện sống ở dƣới nƣớc và trên cạn.
Với sự đa dạng về số lƣợng loài, hình thái, phân bố nên Thân mềm Chân bụng có ý nghĩa quan trọng về tiến hóa – thích nghi (sống đƣợc cả ở trên cạn lẫn dƣới nƣớc), đa dạng sinh học, giá trị khảo cổ và thực tiễn. Thân mềm Chân bụng còn có thể sử dụng nhƣ một nhóm chỉ thị đa dạng sinh học động vật không xƣơng sống. Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng, trong đó có loài ốc mang trƣớc (Prosobranchia: Gastropoda) ở rừng ngập mặn. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu gần đây nhất đã đƣợc thực hiện khoảng 10 năm.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển luôn chịu tác động mạnh mẽ từ thiên nhiên. Do đó, sẽ có nhiều thay đổi về môi trƣờng sống cũng nhƣ đa dạng sinh học các nhóm sinh vật ở đây. Điều đó đặt ra nhiệm vụ tiếp tục mở rộng việc điều tra về Thân mềm chân bụng tại khu vực rừng ngập mặn. Vùng đất ngập nƣớc (ĐNN) ven biển huyện Thái Thụy (Thái Bình) nằm trong Khu Dự trữ sinh quyển thế giới đồng bằng sông Hồng, đƣợc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa (UNESCO) công nhận vào năm 2004, gồm 3 tỉnh: Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình.
Vùng ĐNN Thái Thụy có dải rừng ngập mặn (RNM) với diện tích khoảng 3.500 ha tập trung tại các xã Thụy Trƣờng, Thụy Xuân, Thái Thƣợng, Thái Đô, có tác dụng lớn trong phòng hộ đê biển, điều hòa khí hậu và có giá trị lớn về cảnh quan môi trƣờng, bảo tồn hệ sinh thái ngập nƣớc ven biển. Những năm gần đây, do dân số đông gây sức ép lớn lên tài nguyên của vùng nên việc quản lý, giữ gìn nguồn tài nguyên quý giá là vấn đề cần thiết đối với vùng ven biển này. Luan van 2 Việc nghiên cứu thành phần loài ốc mang trƣớc (Prosobranchia: Gastropoda) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình nhằm bảo vệ và phát triển hệ thống rừng ngập mặn để nâng cao tầm quan trọng của rừng ngập mặn trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ rừng ngập mặn trong chiến lƣợc chủ động ứng phó với BĐKH. Đồng thời, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học cho Khu dự trữ sinh quyển châu thổ đồng bằng sông Hồng.
Xuất phát từ thực tiễn trên và mong muốn góp phần thiết thực bảo vệ và phát triển hệ thống rừng ngập mặn ven biển tỉnh Thái Bình - là khu vực chịu ảnh hƣởng của BĐKH góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và khai thác giá trị từ rừng, học viên chọn đề tài luận văn: “Điều tra, đánh giá thành phần loài ốc mang trƣớc (Prosobranchia: Gastropoda) trong hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình”. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc thành phần loài ốc mang trƣớc tại khu vực nghiên cứu góp phần hoàn thiện các thông tin dữ liệu về loài ốc mang trƣớc tại khu vực nghiên cứu - Xác định đƣợc hiện trạng khai thác, sử dụng và các nhân tố tác động đến đa dạng sinh học loài tại khu vực nghiên cứu, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý đa dạng sinh học loài tại khu vực nghiên cứu 3. Nội dung nghiên cứu - n t n p n o m n tr t uv n n u p p n o n t ện t ôn t n dữ ệu về o m n tr t uv n n u + Nghiên cứu các sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu + Nghiên cứu đặc điểm phân bố theo sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu + Nghiên cứu đa dạng thành phần loài ốc mang trƣớc trong hệ sinh thái rừng ngập mặn tại khu vực huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình + Mô tả đặc điểm hình thái của loài ốc mang trƣớc thu đƣợc tại khu vực hệ sinh thái rừng ngập mặn tại khu vực huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình - n ện tr n t , sử dụn v n ân t t ộn ến d n sn ọ loài t uv n n u Luan van 3 + Xác định các giá trị về kinh tế, sức khỏe, khoa học thực tiễn, môi trƣờng thiên nhiên,… mà loài ốc mang trƣớc đem lại + Xác định trữ lƣợng nguồn tài nguyên loài ở khu vực nghiên cứu + Xác định số lƣợng ngƣời/hộ dân khai thác, sản lƣợng khai thác các loài có giá trị. + Các nhân tố đe dọa đến đa dạng sinh học loài (khí hậu, môi trƣờng,.phát triển kinh tế- xã hội) + Đánh giá hiện trạng quản lý đa dạng sinh học và môi trƣờng tại khu vực nghiên cứu - Đề xuất một s ả p p quản ý d n sn ọ o t uv n n u + Xác định những thuận lợi, khó khăn khách quan, cơ hội và thách thức trong công tác quản lý đa dạng sinh học + Đề xuất một số giải pháp quản lý đa dạng sinh học loài ốc mang trƣớc trong khu vực nghiên cứu Luan van 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát về ốc mang trƣớc 1. Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái chung - Đặc điểm cấu tạo chung của phân lớp mang trƣớc Prosobranchia theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là mang ở phía trƣớc (proso=trƣớc, branchia=mang). Đặc điểm nhận dạng của Prosobranchia là xoang màng áo nằm phía trƣớc, kết quả của hiện tƣợng xoắn. Các loài có đặc điểm cấu tạo xoang mang áo nằm phía trƣớc thƣờng đƣợc xếp chung vào một lớp phụ là lớp phụ Prosobranchia, đây là lớp phụ l ớn nhất trong ba lớp phụ thuộc lớp Gastropoda.
Hầu hết các loài thuộc Prosobranchia sống ở biển, một số ít sống trong môi trƣờng nƣớc ngọt và trên cạn.000 loài đã đƣợc mô tả, bao gồm những loài sống di động tự do và một số loài sống bám hay ký sinh. Những loài sống tự do, tùy từng loài mà thức ăn của chúng là thực vật, chất lắng tụ ở nên đáy, vật chất lơ lửng. Có loài ăn tạp hay ăn động vật. Một số loài ăn động vật nhƣ ốc Cunus có khả năng sản xuất ra nọc độc, chúng tiêm nọc độc vào con mồi (cá, Mollusca, giun đốt.) qua răng móc trên lƣỡi sừng.
Hình thức dinh dƣỡng của các loài sống ở biển sâu hoàn toàn khác, trong mô của mang có chứa vi khuẩn cộng sinh, vi khuẩn cộng sinh giúp cung cấp dinh dƣỡng cho chúng. Cấu tạo tuyến nọc độc của Prosobranchia ăn động vật, loài Conus sp. Russell, in Advances in Marine Biology, 21:59, 1984. Copyright © Academic Press.
Trích dẫn bởi Jan A. [12] Luan van 5 Prosobranchia là những loài có mức tiến hóa thấp, hai nhóm còn lại tiến hóa từ tổ tiên có dạng giống nhƣ Prosobranchia. Hầu hết các loài thuộc Prosobranchia có vỏ rất phát triển, có xoang mang áo, cơ quan khứu giác, và chân. Chân thƣờng có mang một đĩa cứng cấu tạo từ protein hay can-xi, còn gọi là nắp vỏ.
Khi chân rút vào trong vỏ, nắp vỏ che kín miệng vỏ nhờ đó giúp con vật chống lại điều kiện bị sốc (nhiệt, áng sáng.), tránh bị mất nƣớc (bị khô hay nồng độ muối thay đổi.) và tránh bị địch hại ăn thịt. Mang của Prosobranchia là mang dạng lƣợc (cteno tiếng La-tinh có nghĩa là cái lƣợc), bao gồm nhiều sợi tơ mang nằm kề nhau kết lại tạo thành tấm mang phẳng hình tam giác. Máu không chứa oxy (deoxygenated blood) đi vào tấm màng từ xoang máu vào (afferent vessel). Tại mang, máu hấp thụ oxy sau đó đƣợc chuyển vào xoang máu ra (efferent vessel).
Kế đến máu đƣợc vận chuyển đến tâm nhĩ, rồi tâm thất, tại tâm thất máu đƣợc bơm tới các mô qua động mạch và các xoang máu trên cơ thể. Các loài thuộc Prosobranchia có tiến hóa thấp (primitive species = loài sơ khai) nhƣ các loài thuộc Bộ Archaeogastropoda thì có một đôi tâm nhĩ, một đôi mang. Dòng nƣớc lƣu thông trong xoang màng áo qua bề mặt tấm mang nhờ hoạt động của các tiêm mao trên tấm mang. Ở nhiều loài, một phần của màng áo cuộn lại tạo thành ống hút nƣớc.
Ở những loài sống vùi, ống thoát nƣớc giúp cho chúng có thể hô hấp dễ dàng khi vùi trong nền đáy. Những loài ăn động vật và ăn xác thối thƣờng có ống hút nƣớc phát triển, chúng thƣờng bắt con mồi bằng chất độc, trong khi đó các loài ăn vật chất lơ lửng và chất lăng tụ ở nền đáy thì ống hút nƣớc thoái hóa hoặc không có ống hút nƣớc. Dòng nƣớc đi qua mang thƣờng theo một hƣớng nhất định, ở hầu hết Gastropoda nƣớc đi vào xoang màng áo từ bên trái của đầu, đi qua tấm mang và thoát ra ngoài ở phía bên phải của đầu. Các loài tiến hóa thấp có hai đôi mang, nƣớc đi vào xoang mang áo thƣờng từ hai bên của đầu nên trên vỏ thƣờng có những lỗ thoát nƣớc ra khỏi xoang mang áo nhƣ Haliotis (Bào ngƣ) hay Fissurella.
Ở tất cả các loài, hƣớng vận chuyển của dòng nƣớc trong xoang màng áo ngƣợc với hƣớng Luan van 6 vận chuyển của máu. Hệ thống trao đổi ngƣợc hƣớng (countercurrent exchange system) giúp tăng hiệu quả trao đổi khí. Prosobranchia rất đa dạng về cấu tạo và chức năng của cơ thể, Heteropoda là một thí dụ điển hình cho sự đa dạng đó. Heteropoda sống phù du, ăn động vật, vỏ thoái hóa hoặc không có vỏ, chân của chúng mỏng có thể uốn lƣợn giúp chúng có thể bơi lội trong nƣớc.
Ngoại trừ khối nội tạng, cơ thể của chúng gần nhƣ trong suốt, đây là một đặc điểm thích nghi giúp chúng có thể tồn tại trong môi trƣờng. Sự tiến hóa của Prosobranchia là sự thay đổi số lƣợng mang, từ hai mang ở các loài tiến hóa thấp trong Bộ Archaeogastropoda thành một mang ở những loài tiến hóa hơn trong Bộ Mesogastropoda và Neogastropoda. Một đặc điểm tiến hóa khác là sự thay đổi của tơ mang trên trục mang, các loài ít tiến hóa có mang lƣợc kép (bipectinate), tơ mang phát triển về hai phía của trục mang, trong khi các loài tiến hóa có mang lƣợc đơn (monopectinate), tơ mang phát triển về một phía của trục mang. Bộ Archaeogastropoda Bao gồm 16 họ: Pleurotomariidae, Haliotidae, Scissurellidae, Fissurellidae, Patellidae, Acmaeidae, Lepetidae, Calliostomatidae, Trochidae, Stomatellidae, Cyclostrematidae, Turbinidae, Phasianellidae, Neritidae, Helicinidae, Hydrocenidae.
Họ Neritina là động vật trong họ tiến bộ nhất trong bộ Archaeogastropoda biểu hiện qua thận phải và mang lƣợc phải (ctenidium) mất đi và đặc điểm sinh học cũng nhƣ cấu tạo của tuyến sinh dục không bình thƣờng.