Tổng quan nghiên cứu

Vườn quốc gia Cúc Phương là khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Việt Nam, được thành lập năm 1962 với tổng diện tích 22.200 ha trải dài trên địa bàn 3 tỉnh gồm Ninh Bình (51,1%), Hòa Bình (26,4%) và Thanh Hóa (22,5%). Dù chỉ chiếm khoảng 0,07% tổng diện tích tự nhiên của cả nước, khu vực này sở hữu hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới thường xanh trên núi đá vôi vô cùng độc đáo. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% dân số tại các quốc gia đang phát triển phụ thuộc vào y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe ban đầu, và khoảng 85% các bài thuốc truyền thống đòi hỏi nguồn nguyên liệu chiết xuất từ thực vật tự nhiên. Thị trường thảo dược toàn cầu ước tính có thể tạo ra doanh thu 900 tỷ USD mỗi năm cho các quốc gia nhiệt đới nếu được quản lý và khai thác tối ưu.

Tuy nhiên, áp lực gia tăng dân số với gần 70.000 người sinh sống tại vùng đệm (chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường), cùng với nạn khai thác thương mại tự phát và tập quán đốt nương làm rẫy, đã đẩy nhiều loài cây thuốc quý trước nguy cơ suy kiệt nghiêm trọng. Nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn sinh học và khai thác tài nguyên, luận văn thạc sĩ lâm học của tác giả Đinh Trọng Hải tập trung điều tra toàn diện, xây dựng danh lục phân loại thực vật học, đánh giá hiện trạng bảo tồn và đúc kết tri thức bản địa của cộng đồng địa phương. Kết quả nghiên cứu đã định danh chính xác 649 loài cây thuốc thuộc 455 chi và 148 họ thực vật bậc cao có mạch, chiếm 33,7% tổng số loài thực vật tại Cúc Phương và đại diện cho 16,9% tổng nguồn cây thuốc được ghi nhận trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đề tài cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để xây dựng chiến lược quản lý rừng đặc dụng bền vững và chuyển giao kỹ thuật canh tác dược liệu dưới tán rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa phân loại học thực vật hiện đại, sinh thái học bảo tồn và nhân học y dược học (Ethnobotany). Hệ thống phân loại thực vật bậc cao có mạch được chuẩn hóa theo khung tiến hóa của Brummitt (1992) tại Vườn Thực vật Hoàng gia Kew và hệ thống phân loại của nhà thực vật học Takhtajan. Đồng thời, nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi của Tuyên ngôn Chiang Mai (1988) về bảo tồn cây thuốc toàn cầu và Công ước Đa dạng Sinh học (CBD 1992).

Bốn khái niệm then chốt định hình xuyên suốt luận văn gồm:

  • Đa dạng sinh học thực vật dược: Cấu trúc thành phần loài, chi, họ và sự phân hóa dạng sống của các loài thực vật có hoạt tính trị liệu.
  • Tri thức y học bản địa (Indigenous Traditional Knowledge): Hệ thống kinh nghiệm dân gian đúc kết qua nhiều thế hệ của người bản địa về nhận dạng, thu hái, bào chế và phối ngũ dược liệu.
  • Bảo tồn nguyên vị (In-situ) và chuyển vị (Ex-situ): Cơ chế duy trì quần thể loài trong sinh cảnh tự nhiên kết hợp với mô hình thuần dưỡng, gây trồng tại vườn nhà và vườn rừng nông hộ.
  • Tình trạng đe dọa tuyệt chủng: Tiêu chuẩn phân hạng nguy cấp sinh học dựa trên Sách Đỏ Việt Nam 2007, Danh lục Đỏ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa thu thập dữ liệu sinh học thực địa và điều tra xã hội học có sự tham gia của cộng đồng (PRA) trong khung thời gian dài hạn.

  • Thu thập dữ liệu thực địa: Khảo sát thực địa được triển khai theo các tuyến cắt sinh cảnh đặc trưng và hệ thống ô tiêu chuẩn có diện tích 1.000 m2 (kích thước 20m x 50m) phân bố tại các thung lũng đất và sườn núi đá vôi hiểm trở. Với mỗi loài cây thuốc ghi nhận, nhóm tác giả thu thập tối thiểu 03 mẫu tiêu bản cành mang lá, hoa hoặc quả; mẫu hoa tươi được bảo quản trong dung dịch cồn 60 độ để phục vụ giám định hình thái vi phẫu. Mọi mẫu vật đều được đối chiếu trực tiếp với bộ sưu tập mẫu chuẩn tại Phòng Tiêu bản Vườn quốc gia Cúc Phương (CPNP) và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật.
  • Cỡ mẫu và điều tra tri thức bản địa: Thực hiện phỏng vấn sâu 12 lương y giàu kinh nghiệm (ông lang, bà mế) sinh sống tại 4 xã vùng đệm thuộc các huyện Nho Quan, Lạc Sơn và Thạch Thành; đồng thời khảo sát định lượng tại các chợ phiên và điểm thu mua dược liệu thương phẩm quanh khu vực vườn quốc gia.
  • Phương pháp phân tích: Áp dụng phương pháp hình thái so sánh kết hợp phân tích thống kê tần suất xuất hiện, phân bố dạng sống và nhóm bệnh trị liệu. Việc lựa chọn phương pháp này giúp đảm bảo độ chuẩn xác phân loại học ở cấp độ loài, đồng thời cung cấp cái nhìn định lượng về mức độ tương quan giữa tri thức dân tộc học và giá trị dược liệu thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực địa đã thiết lập bức tranh chi tiết về cơ cấu phân loại học và tiềm năng dược tính của hệ thực vật Cúc Phương:

  • Thành phần phân loại chiếm ưu thế: Trong tổng số 649 loài cây thuốc được xác định, ngành Hạt kín (Magnoliophyta) chiếm vị trí tuyệt đối với 627 loài (96,6%), 436 chi (87,8%) và 130 họ. Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) chiếm ưu thế áp đảo với 538 loài (85,8% của ngành Hạt kín) và 105 họ, trong khi lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) chiếm 89 loài (14,2%) và 25 họ. Các họ thực vật có số loài làm thuốc đa dạng nhất gồm họ Đậu (Fabaceae với 106 loài), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae với 101 loài) và họ Lan (Orchidaceae với 100 loài).
  • Phân hóa dạng sống thực vật: Cây thân thảo chiếm tỷ trọng lớn nhất với 218 loài (33,6%), theo sau là cây thân gỗ với 179 loài (27,6%), cây thân leo với 138 loài (21,3%) và cây thân bụi với 114 loài (17,6%). Tổng cộng nhóm cây phi thân gỗ (thảo, bụi, leo) đạt 470 loài, chiếm tới 72,5% nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu vực.
  • Phổ tác dụng trị liệu và bài thuốc bản địa: Nguồn dược liệu tại Cúc Phương chữa trị được 21 nhóm bệnh lý khác nhau. Trong đó, nhóm bệnh về đường tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất với 168 loài (25,9%), kế tiếp là các bệnh ngoài da và nhiễm trùng với 151 loài (23,3%), bệnh xương khớp với 74 loài (11,4%) và bồi dưỡng cơ thể với 66 loài (10,2%). Đề tài đã ghi nhận 30 bài thuốc cổ truyền độc đáo của người Mường trị 13 nhóm bệnh thông thường và hiểm nghèo.
  • Tình trạng đe dọa và áp lực thị trường: Đã xác định 51 loài cây thuốc có nguy cơ tuyệt chủng (chiếm 7,8% tổng số loài cây thuốc). Trong đó có 9 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (2 loài cực kỳ nguy cấp EN gồm Bổ cốt toái - Drynaria fortunei và Thanh thiên quỳ - Nervilia fordii; 7 loài sẽ nguy cấp VU), 12 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP (2 loài Nhóm IA nghiêm cấm khai thác gồm Lan kim tuyến và Hài đốm; 10 loài Nhóm IIA), và 35 loài theo khuyến cáo của UNEP-WCMC. Đáng báo động, 6 loài quý hiếm như Khôi tía, Cẩu tích, Cốt toái bổ, Chân chim, Thiên kim đằng và Củ bình vôi vẫn đang bị khai thác và buôn bán tự do với khối lượng hàng trăm tấn mỗi năm.

Thảo luận kết quả

Sự phân bố sinh cảnh của cây thuốc Cúc Phương phản ánh sự thích nghi sinh thái phức tạp. Dữ liệu từ nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ phân bố sinh thái kết hợp với biểu đồ khí hậu Gaussen-Walter để minh họa tương quan giữa lượng mưa trung bình 2.147,7 mm/năm, độ ẩm không khí 90% và chu kỳ sinh trưởng của thảm thực vật. Có 326 loài (50,2%) phân bố chủ yếu trong rừng nguyên sinh và thứ sinh trên núi đá vôi, giữ vai trò xung yếu trong cân bằng hệ sinh thái. Đáng chú ý, có tới 323 loài (49,8%) xuất hiện tại sinh cảnh chịu tác động nhân sinh như vườn nhà, ven đường bản làng (198 loài, 30,5%) và đất nương rẫy, trảng cây bụi (125 loài, 19,3%).

Về bộ phận thu hái, lá là cơ quan được sử dụng nhiều nhất (354 loài, 53,6%), tiếp đến là thân (191 loài, 29,4%), rễ củ (176 loài, 27,1%) và toàn cây (181 loài, 27,9%). Việc hơn 50% số loài bị thu hái rễ, vỏ thân hoặc nhổ nguyên cây gây nguy cơ tiêu diệt trực tiếp cá thể thực vật ngoài tự nhiên. So sánh với các khu bảo tồn lân cận như Vườn quốc gia Ba Vì (503 loài cây thuốc) và Vườn quốc gia Cát Bà (443 loài cây thuốc), Cúc Phương thể hiện tính đa dạng vượt trội về mật độ loài trên một đơn vị diện tích. Điều này chứng minh Cúc Phương không chỉ là cái nôi đa dạng sinh học mà còn là kho dự trữ gen cây thuốc vô giá của vùng Bắc Bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm cân bằng giữa công tác bảo tồn sinh học và phát triển kinh tế bền vững:

  • Thiết lập phân khu bảo tồn nguyên vị (In-situ) nghiêm ngặt: Khoanh vùng và thiết lập các trạm tuần tra định kỳ tại các sinh cảnh núi đá vôi trọng điểm, mục tiêu bảo vệ tuyệt đối 100% diện tích phân bố tự nhiên của 51 loài nguy cấp, trọng tâm là Lan kim tuyến (Anoectochilus roxburghii), Hài đốm (Paphiopedilum concolor) và Thanh thiên quỳ (Nervilia fordii). Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2024 - 2026. Chủ thể chịu trách nhiệm: Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa.
  • Xây dựng trung tâm nhân giống và mô hình trồng chuyển vị (Ex-situ): Ứng dụng kỹ thuật nhân giống vô tính và gieo ươm hạt để chuyển giao kỹ thuật canh tác 6 loài cây thuốc thương phẩm có chu kỳ thu hoạch ngắn (Khôi tía, Cẩu tích, Củ bình vôi, Thiên kim đằng) vào mô hình nông lâm kết hợp tại vùng đệm. Mục tiêu: Thu hút tối thiểu 500 hộ gia đình tham gia, tạo sản lượng dược liệu ổn định và cắt giảm 80% áp lực khai thác rừng tự nhiên trước năm 2028. Chủ thể chịu trách nhiệm: Trạm Nghiên cứu Khoa học Cúc Phương và Hội Nông dân địa phương.
  • Tư liệu hóa và kiểm chứng hoạt tính sinh học tri thức dân tộc Mường: Hoàn thiện cơ sở dữ liệu số hóa cho 30 bài thuốc gia truyền và hệ thống kinh nghiệm của 12 lương y tiêu biểu, tiến hành sàng lọc hóa thực vật học và thử nghiệm dược lý học để xác định hoạt chất chính. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2024 - 2027. Chủ thể chịu trách nhiệm: Viện Dược liệu, Trường Đại học Dược Hà Nội và Trường Đại học Lâm nghiệp.
  • Tăng cường kiểm soát thị trường và cấp chứng nhận chuỗi giá trị dược liệu: Tổ chức thanh tra, xử phạt nghiêm các hành vi buôn bán lâm sản thuộc danh mục Nhóm IA và IIA tại 29 đầu mối thu mua quanh vườn quốc gia; đồng thời hỗ trợ thành lập các hợp tác xã sản xuất dược liệu sạch đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. Thời gian thực hiện: Định kỳ hàng năm giai đoạn 2024 - 2030. Chủ thể chịu trách nhiệm: Lực lượng Kiểm lâm liên ngành và Cục Quản lý thị trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà khoa học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Lâm học, Dược học và Sinh thái học: Tài liệu cung cấp hệ thống phân loại học chuẩn xác của 649 loài thực vật bậc cao có mạch, làm tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu chuyên sâu về phân loại phân tử, sinh thái học thực vật và chiết xuất hợp chất tự nhiên.
  • Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Luận văn là hình mẫu thực nghiệm xuất sắc về phương pháp điều tra đa dạng sinh học gắn với tri thức bản địa, hỗ trợ xây dựng quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và kế hoạch hành động bảo vệ loài bị đe dọa.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương vùng đệm: Cung cấp bức tranh thực trạng kinh tế - xã hội của 70.000 dân cư bản địa, giúp hoạch định các chính sách hỗ trợ sinh kế, chi trả dịch vụ môi trường rừng và phát triển kinh tế nông lâm kết hợp hiệu quả.
  • Doanh nghiệp sản xuất dược phẩm và đơn vị kinh doanh y học cổ truyền: Nguồn dữ liệu quý giá về 29 loài cây thuốc thương phẩm và 30 bài thuốc cổ phương người Mường, mở ra cơ hội đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu dược liệu đạt chuẩn và phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe có giá trị thương mại cao.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã ghi nhận chính xác bao nhiêu loài cây thuốc tại Vườn quốc gia Cúc Phương?
Luận văn đã điều tra, thu thập mẫu vật và định danh chính xác 649 loài cây thuốc thuộc 455 chi và 148 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch. Con số này chiếm 33,7% tổng số loài thực vật tại Vườn quốc gia Cúc Phương và đại diện cho 16,9% tổng nguồn cây thuốc đã được công bố trên cả nước.

Có bao nhiêu loài cây thuốc tại Cúc Phương đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng?
Nghiên cứu đã ghi nhận 51 loài cây thuốc có nguy cơ tuyệt chủng cần được ưu tiên bảo vệ (chiếm 7,8% tổng nguồn cây thuốc của vườn). Danh mục này bao gồm 9 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (trong đó có 2 loài ở cấp nguy cấp EN là Bổ cốt toái và Thanh thiên quỳ), 12 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP và 35 loài theo khuyến cáo của UNEP-WCMC.

Tại sao nhóm cây thân thảo, thân bụi và thân leo lại chiếm ưu thế trong hệ cây thuốc Cúc Phương?
Nhóm cây phi thân gỗ chiếm tới 470 loài (tương đương 72,5% tổng số loài cây thuốc), trong đó cây thân thảo chiếm cao nhất với 33,6%. Nhóm cây này có khả năng thích nghi cao với tầng dưới tán rừng nhiệt đới, chu kỳ sinh thái ngắn và khả năng tái sinh mạnh, tạo tiền đề vô cùng thuận lợi cho công tác gây trồng thương mại tại vườn nhà.

Tri thức y học cổ truyền của người Mường được thể hiện như thế nào trong nghiên cứu?
Nghiên cứu đã khảo sát 12 lương y người bản địa, ghi nhận mức độ sử dụng trung bình 78 loài thuốc/người và đúc kết được 30 bài thuốc dân gian đặc sắc trị 13 nhóm bệnh. Các bài thuốc chữa bệnh tiêu hóa, hô hấp và rắn cắn của đồng bào Mường cho thấy tính sáng tạo và kinh nghiệm thực nghiệm phong phú cần được khẩn cấp bảo tồn.

Giải pháp cốt lõi nào giúp ngăn chặn việc khai thác cạn kiệt các loài dược liệu quý tại Cúc Phương?
Giải pháp trọng tâm là kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn nguyên vị (In-situ) tại vùng lõi rừng đặc dụng và chuyển giao kỹ thuật trồng chuyển vị (Ex-situ) tại các xã vùng đệm. Việc phát triển 6 loài cây thuốc thương phẩm có nhu cầu cao (như Khôi tía, Cẩu tích, Củ bình vôi) theo chuỗi giá trị giúp tạo thu nhập ổn định cho người dân và giảm thiểu áp lực khai thác rừng tự nhiên.

Kết luận

  • Hệ thống hóa danh lục phân loại học hoàn chỉnh của 649 loài cây thuốc thuộc 148 họ tại Vườn quốc gia Cúc Phương, khẳng định vị thế trung tâm đa dạng sinh học thực vật dược hàng đầu Việt Nam.
  • Xác định 51 loài cây thuốc quý hiếm thuộc diện ưu tiên bảo tồn khẩn cấp theo Sách Đỏ Việt Nam và Nghị định 32/2006/NĐ-CP, đồng thời chỉ rõ áp lực khai thác thương mại nặng nề đối với 6 loài trọng điểm.
  • Đúc kết và bảo tồn thành công 30 bài thuốc cổ truyền trị 13 nhóm bệnh từ kho tàng tri thức bản địa của cộng đồng người Mường vùng đệm.
  • Chứng minh tiềm năng kinh tế vượt trội của nhóm thực vật phi thân gỗ (chiếm 72,5%), mở ra hướng đi khả thi cho mô hình canh tác nông lâm kết hợp.
  • Đề xuất khung giải pháp quản lý tích hợp giữa giám sát nghiêm ngặt vùng lõi và phát triển vùng trồng dược liệu sạch chuẩn GACP-WHO tại vùng đệm.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực chứng toàn diện về phân loại học, sinh thái học và tri thức dân tộc học của hệ cây thuốc Cúc Phương, tạo tiền đề khoa học cho các chiến lược bảo tồn gen và quy hoạch dược liệu quốc gia.

Trong giai đoạn 2024 - 2026, các cơ quan chức năng cần khẩn trương thiết lập mạng lưới giám sát loài nguy cấp tại chỗ; hướng tới giai đoạn 2026 - 2030 hoàn thiện chuỗi liên kết sản xuất dược liệu bền vững gắn với sinh kế cộng đồng bản địa.

Hãy đẩy mạnh ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn quản lý rừng, bảo vệ nghiêm ngặt các loài thực vật quý hiếm và chung tay phát triển nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam xanh, bền vững.