Tổng quan nghiên cứu
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là một trong những mục tiêu chiến lược hàng đầu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp tại Việt Nam. Theo báo cáo từ Thường trực Ban Chỉ đạo Đề án 1956, trong giai đoạn 2010 - 2015, ngân sách Trung ương đã đầu tư hơn 4.873 tỷ đồng để hỗ trợ dạy nghề cho 1,615 triệu lao động nông thôn trên toàn quốc, trong đó có khoảng 1,5 triệu người đã hoàn thành khóa học. Tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh – một địa bàn có tỷ lệ dân số nông thôn chiếm tới 94,57% (132.110 người trên tổng số 139.692 dân) và lực lượng lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao tới 67,07% (72.420 người trên tổng số 107.987 lao động đang làm việc) – áp lực thiếu việc làm trong thời gian nông nhàn là rất lớn.
Vấn đề đặt ra là liệu việc triển khai các chương trình đào tạo nghề phi nông nghiệp theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ có thực sự mang lại hiệu quả kinh tế bền vững cho người dân hay không. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Thành Xuân, do TS. Trương Đăng Thụy hướng dẫn tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH), tập trung giải quyết mục tiêu đánh giá tác động thực chất của đào tạo nghề phi nông nghiệp đối với mức lương, số giờ làm việc và tổng thu nhập của người lao động trên địa bàn huyện Châu Thành trong giai đoạn 2011 - 2015.
Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh tăng trưởng sản lượng của huyện đạt bình quân 8,91%/năm giai đoạn 2011 - 2015, đồng thời cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch tích cực với ngành dịch vụ chiếm 38,7% và công nghiệp - xây dựng chiếm 29,2% vào năm 2015. Kết quả phân tích cung cấp bằng chứng định lượng chuẩn xác giúp các nhà quản lý kinh tế địa phương tối ưu hóa nguồn lực ngân sách và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các lý thuyết kinh tế học lao động cổ điển và hiện đại:
- Lý thuyết nguồn gốc của cải và tổng cầu lao động: Dựa trên quan điểm của Adam Smith về vai trò của phân công lao động trong việc tạo ra của cải xã hội, kết hợp cùng lý thuyết việc làm của John Maynard Keynes về mối quan hệ giữa tổng cầu kinh tế, đầu tư sản xuất và quy mô tạo việc làm.
- Lý thuyết kinh tế phi nông nghiệp nông thôn: Vận dụng nghiên cứu của các chuyên gia phát triển quốc tế (như nghiên cứu của Davis năm 2003 từ Bộ Phát triển Quốc tế Anh Quốc), khẳng định khu vực phi nông nghiệp đóng góp từ 40% đến 60% tổng thu nhập và việc làm tại khu vực nông thôn, đóng vai trò giải quyết tình trạng thiếu việc làm do tính mùa vụ của nghề trồng lúa nước.
- Mô hình vốn con người và hàm tiền lương Mincer (1974): Xem xét giáo dục và đào tạo nghề ngắn hạn như một khoản đầu tư gia tăng vốn nhân lực. Phương trình Mincer chuẩn hóa được áp dụng để lượng hóa mối tương quan giữa số năm học nghề, kinh nghiệm làm việc, trình độ học vấn tổng quát với năng suất và mức thù lao nhận được.
- Hệ thống khái niệm chuẩn hóa: Nghiên cứu phân định rõ ràng giữa việc làm nông nghiệp thuần túy và việc làm phi nông nghiệp (theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO và Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Lao động năm 2012 của Việt Nam), coi việc làm phi nông nghiệp là các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng ngoài trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt thủy hải sản.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận định lượng kết hợp dữ liệu sơ cấp được thu thập bài bản qua bảng câu hỏi khảo sát:
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Mẫu khảo sát gồm 159 người lao động tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng. Mẫu được chia thành 2 nhóm rõ rệt: nhóm xử lý gồm 82 người đã qua đào tạo nghề phi nông nghiệp (chiếm 51,9%) và nhóm đối chứng gồm 76 người chưa từng qua đào tạo nghề (chiếm 48,1%).
- Thiết kế thời gian thu thập: Dữ liệu được đo lường tại hai mốc thời gian là năm 2013 (trước đào tạo) và năm 2015 (một năm sau khi hoàn thành khóa đào tạo nghề) nhằm phản ánh đúng độ trễ tác động của chính sách.
- Phương pháp phân tích dữ liệu:
- Kiểm định sai biệt trung bình độc lập (Independent Samples t-test) nhằm so sánh sự biến động về số giờ làm việc, mức lương theo giờ và tổng thu nhập giữa hai nhóm đối tượng.
- Phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu (OLS) kết hợp chuẩn hóa sai số Robust Standard Errors cho 3 mô hình hồi quy độc lập nhằm loại trừ hiện tượng phương sai sai số thay đổi, đồng thời kiểm soát các biến nhân khẩu học gồm độ tuổi, số năm đi học, dân tộc (Kinh - Khmer), thời gian cư trú và tình trạng hôn nhân.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình xử lý dữ liệu thực nghiệm trên 159 quan sát đã chỉ ra các phát hiện định lượng then chốt sau:
- Gia tăng đáng kể về thu nhập bình quân: Thu nhập của người lao động nông thôn sau khi tham gia đào tạo nghề tăng từ 2,129 triệu đồng/tháng lên mức 2,840 triệu đồng/tháng ở hiện tại. Mức tăng tuyệt đối đạt 0,711 triệu đồng/tháng, tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng thu nhập đạt 33,40%.
- Cải thiện đồng thời mức lương theo giờ và thời gian lao động: Mức lương bình quân theo giờ tăng từ 13,802 ngàn đồng/giờ lên 16,762 ngàn đồng/giờ (tăng 21,46%). Bên cạnh đó, số giờ làm việc trung bình hàng tháng cũng tăng từ 164,842 giờ lên 180,069 giờ/tháng (tăng thêm 15,23 giờ/tháng), chứng minh đào tạo nghề giúp người dân tận dụng hiệu quả thời gian nhàn rỗi giữa các vụ lúa.
- Cơ cấu ngành nghề đào tạo còn mất cân đối: Trong số những lao động tham gia học nghề, có tới 59,76% học nghề đan đát thủ công, 39,02% học kỹ thuật xây dựng và chỉ có 1,22% tham gia học nghề may công nghiệp. Thời gian đào tạo hoàn tất trung bình là 3,68 tháng (dao động từ 0,6 tháng đến 24 tháng).
- Mức độ hỗ trợ tài chính từ Nhà nước rất cao: Tổng chi phí đào tạo nghề trung bình cho một học viên là 827.333 đồng. Trong đó, ngân sách Nhà nước theo Đề án 1956 hỗ trợ trung bình 710.000 đồng/người (chiếm 78,05% số người học), người lao động chỉ phải tự túc chi trả khoảng 114.504 đồng (chiếm 21,95%).
- Hiệu ứng xã hội và nhận thức của người dân: Có 82,09% lao động khẳng định việc học nghề tạo ra tác động tích cực đối với đời sống kinh tế gia đình; 78,05% tiếp cận thông tin khóa học thông qua chính quyền xã, ấp; tuy nhiên vẫn còn 52,44% lao động sau đào tạo có nhu cầu cấp thiết về việc được hỗ trợ kết nối việc làm.
Thảo luận kết quả
Kết quả phân tích hồi quy OLS Robust đã chứng minh biến tham gia đào tạo nghề có ý nghĩa thống kê dương đối với cả ba biến phụ thuộc: sai biệt thu nhập, sai biệt tiền lương và sai biệt số giờ làm việc. Sự cải thiện này hoàn toàn nhất quán với các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế như nghiên cứu của Andersson và các cộng sự (2014) tại Thụy Điển hay nghiên cứu về hệ thống dạy nghề SENAI tại Brazil.
Trong thực tế, huyện Châu Thành có đặc thù 49,69% lao động trong mẫu khảo sát là đồng bào dân tộc Khmer và độ tuổi trung bình là 39,52 tuổi (với trình độ học vấn bình quân chỉ đạt 4,92 năm đi học). Việc trang bị kỹ năng thực hành nghề ngắn hạn đã nhanh chóng tháo gỡ rào cản học vấn thấp, giúp lao động tự tạo việc làm tại chỗ (đan đát, gia công) hoặc tham gia thị trường xây dựng dân dụng địa phương. Dữ liệu hồi quy khi trình bày qua các bảng tương quan chéo cho thấy sự phân phối thu nhập đã dịch chuyển rõ rệt sang nhóm có mức thù lao cao hơn, khẳng định vai trò trụ cột của chính sách hỗ trợ chi phí công theo Quyết định 1956/QĐ-TTg.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên các kết luận thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn:
-
Tái cấu trúc danh mục nghề đào tạo theo nhu cầu thực tế:
- Hành động: Giảm dần tỷ trọng các nghề thủ công đơn giản có giá trị gia tăng thấp như đan đát (hiện chiếm 59,76%), mở rộng chỉ tiêu đào tạo các ngành kỹ thuật xây dựng, sửa chữa máy nông nghiệp, cơ khí và chế biến thực phẩm.
- Chỉ tiêu & Thời hạn: Đạt tỷ lệ trên 70% lao động học nghề kỹ thuật có chứng chỉ nghề chính quy vào năm 2020.
- Chủ thể thực hiện: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Trà Vinh phối hợp cùng Phòng Lao động huyện Châu Thành.
-
Xây dựng chuỗi liên kết đào tạo gắn với bao tiêu việc làm:
- Hành động: Thiết lập biên bản ghi nhớ hợp tác ba bên giữa cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp và chính quyền địa phương nhằm giải quyết bài toán 52,44% lao động chưa được hỗ trợ việc làm sau đào tạo.
- Chỉ tiêu & Thời hạn: Đảm bảo tối thiểu 80% người học xong được giới thiệu việc làm hoặc bao tiêu sản phẩm tiểu thủ công nghiệp từ năm 2018.
- Chủ thể thực hiện: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Châu Thành và các hợp tác xã địa phương.
-
Nâng định mức chi phí và đổi mới phương pháp giảng dạy:
- Hành động: Tăng mức trần hỗ trợ chi phí đào tạo bình quân từ 827.333 đồng lên mức phù hợp với biến động thị trường, tăng thời lượng thực hành thực tế vượt mốc 3,68 tháng hiện tại.
- Chỉ tiêu & Thời hạn: Hoàn thiện định mức chi phí đào tạo mới theo Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg và Quyết định số 586/QĐ-UBND tỉnh Trà Vinh trong giai đoạn 2017 - 2020.
- Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành và Sở Tài chính tỉnh Trà Vinh.
-
Đặc thù hóa chương trình cho đồng bào dân tộc thiểu số:
- Hành động: Biên soạn tài liệu học nghề song ngữ Việt - Khmer, tổ chức các lớp đào tạo lưu động trực tiếp tại các ấp có đông đồng bào Khmer (nhóm đối tượng chiếm 49,69% lực lượng khảo sát).
- Chỉ tiêu & Thời hạn: 100% người học là đồng bào Khmer được tiếp cận tài liệu trực quan và hỗ trợ sinh hoạt phí đầy đủ từ quý 3 năm 2017.
- Chủ thể thực hiện: Ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh phối hợp với UBND các xã vùng sâu.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, là tài liệu tham khảo thiết yếu cho các nhóm đối tượng:
- Cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo Sở LĐ-TB&XH, cán bộ Phòng Lao động huyện, UBND các xã cần dữ liệu thực chứng để đánh giá toàn diện hiệu quả thực thi Đề án 1956 và phân bổ nguồn ngân sách hằng năm.
- Ban giám đốc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Lãnh đạo các trung tâm dạy nghề cấp huyện ứng dụng để điều chỉnh cơ cấu ngành nghề đào tạo, chuyển từ cung cấp năng lực sẵn có sang đào tạo theo đơn đặt hàng của thị trường lao động.
- Học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Xã hội học nông thôn tham khảo mô hình hàm tiền lương Mincer kết hợp kỹ thuật hồi quy OLS Robust trong đánh giá tác động chính sách công.
- Các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội phát triển cộng đồng: Các điều phối viên dự án sinh kế nông thôn khai thác bài học kinh nghiệm về việc chuyển đổi việc làm phi nông nghiệp cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Câu hỏi thường gặp
-
Đào tạo nghề theo Đề án 1956 có thực sự giúp tăng thu nhập cho lao động nông thôn không?
Có. Kết quả nghiên cứu khẳng định thu nhập bình quân của người lao động tăng từ 2,129 triệu đồng lên 2,840 triệu đồng/tháng sau đào tạo (tăng 33,40%), đồng thời mức lương theo giờ tăng 21,46% nhờ tay nghề được cải thiện rõ rệt.
-
Ngành nghề phi nông nghiệp nào đang được đào tạo phổ biến nhất tại huyện Châu Thành?
Nghề đan đát chiếm tỷ trọng áp đảo với 59,76% tổng số học viên, tiếp theo là kỹ thuật xây dựng chiếm 39,02% và nghề may chiếm 1,22%. Tuy nhiên, cơ cấu này cần chuyển dịch sang các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao hơn.
-
Người lao động học nghề có phải tự chi trả nhiều học phí không?
Không đáng kể. Ngân sách Nhà nước đã hỗ trợ tới 78,05% số học viên với mức bình quân 710.000 đồng/người trên tổng chi phí đào tạo 827.333 đồng; phần tự túc của người học chỉ chiếm khoảng 114.504 đồng.
-
Phương pháp định lượng nào được tác giả sử dụng để chứng minh tác động của chính sách?
Luận văn sử dụng kiểm định t-test để so sánh 159 mẫu quan sát giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng tại 2 thời điểm 2013 và 2015, kết hợp mô hình hồi quy OLS hiệu chỉnh sai số chuẩn Robust để lượng hóa mức tăng tiền lương.
-
Tại sao có tới hơn 52% lao động sau đào tạo vẫn có nhu cầu hỗ trợ tìm việc làm?
Do phần lớn lao động học nghề thủ công truyền thống tại chỗ, thị trường tiêu thụ phụ thuộc vào thương lái và thiếu vắng các doanh nghiệp bao tiêu quy mô lớn tại địa phương, dẫn đến nhu cầu kết nối việc làm ổn định còn rất cao.
Kết luận
- Đào tạo nghề phi nông nghiệp đã mang lại tác động tích cực rõ rệt, làm tăng 33,40% thu nhập hàng tháng và tăng 21,46% mức thù lao theo giờ cho lao động nông thôn huyện Châu Thành.
- Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg đã phát huy hiệu quả bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết thêm 15,23 giờ làm việc mỗi tháng trong thời gian nông nhàn.
- Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là cơ cấu ngành nghề còn thiên về thủ công đơn giản (đan đát chiếm gần 60%) và khâu kết nối doanh nghiệp giải quyết việc làm sau đào tạo còn hạn chế (52,44% lao động vẫn cần hỗ trợ).
- Luận văn đóng góp một khung lượng hóa tác động chính sách công chuẩn xác, kết hợp hài hòa giữa lý thuyết Mincer và phân tích thực nghiệm trên dữ liệu cấp huyện.
- Các nhà quản lý chính sách và cơ sở đào tạo nghề nên khai thác ngay các dữ liệu định lượng từ công trình này để tái cấu trúc chương trình dạy nghề giai đoạn 2017 - 2020, ưu tiên nguồn lực nâng cao tay nghề thực chất cho người dân.