Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. 123doc 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày các khái niệm có liên quan; các lý thuyết có liên quan và các nghiên cứu thực nghiệm trước. Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm về lao động Lao động là hoạt động của con người nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu con người.
Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế, là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người. Để thực hiện quyền và nghĩa vụ đó, người lao động nói chung cần được đào tạo nghề để có cơ hội tìm việc làm hợp pháp, tạo ra thu nhập, đảm bảo ổn định đời sống của bản thân. Khái niệm về việc làm Thực tế, ở gốc độ khác nhau, mỗi quốc gia, mỗi nhà nghiên cứu về việc làm lại có những quan niệm về việc làm khác nhau. - Quan niệm về việc làm của thế giới Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật.
Đồng thời ILO c ng đưa ra quan niệm người có việc làm là những người có việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật (Kết quả nghiên cứu của Tổ chức lao động Quốc tế trích trong Bùi Thanh Thủy, 2005). 123doc 6 - Quan niệm về việc làm của Việt Nam Theo Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Lao động đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 thì việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Do vậy, trong nghiên cứu này, việc làm là hoạt động của người lao động ở khu vực nông thôn huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh làm nghề phi nông nghiệp, kết hợp giữa lao động với tư liệu sản xuất theo những điều kiện phù hợp nhất định, nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, có thu nhập đáp ứng lợi ích của người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm. Trong lao động, việc làm ở nông thôn, bao gồm lao động làm việc ở khu vực nông nghiệp và khu vực phi nông nghiệp.
Vậy việc làm nông nghiệp và việc làm phi nông nghiệp khác biệt thế nào? 2. Việc làm nông nghiệp, việc làm phi nông nghiệp Việc làm phi nông nghiệp và việc làm của các thành viên hộ gia đình nông thôn không thuộc các dạng hoạt động việc làm nông nghiệp có tính chất nguyên thủy như trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt, săn bắn (Reardon và ctg, 2001). Việc làm phi nông nghiệp là những hoạt động tạo thêm thu nhập trong khu vực nông thôn không thuộc việc làm nông nghiệp (Lanjouw và P. Việc làm phi nông nghiệp là bất kỳ hoạt động nằm ngoài khu vực nông nghiệp, cho dù thực hiện trên nông trại của chính mình hoặc lao động trong các trang trại khác; tiêu chuẩn quan trọng nhất để phân biệt việc làm nông nghiệp và việc làm phi nông nghiệp là ở giá trị gia tăng (Dasgupta.
Như vậy, khái niệm việc làm phi nông nghiệp là khá rộng. Địa điểm hoạt động, quy mô hoạt động, công nghệ được sử dụng c ng như tư liệu, thành phần tham gia không phải là tiêu chí phân biệt hộ nông nghiệp hay hộ gia đình có hoạt động phi nông nghiệp. 123doc 7 Để hiểu sâu hơn, cần tiếp tục tìm hiểu, phân tích, vận dụng các lý thuyết liên quan đến nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn cho cơ sở lý luận về việc làm phi nông nghiệp của lao động ở nông thôn. Các lý thuyết liên quan 2.
Lý thuyết về lao động, việc làm Vấn đề nguồn gốc, bản chất, quá trình hình thành và phát triển lý thuyết lao động, việc làm, trong đó có lao động nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp được nhiều nhà khoa học, quản lý trong, ngoài nước quan tâm đến. Trong tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của các dân tộc”, ông Adam Smith (1723-1790) khẳng định nguồn gốc của mọi sự giàu có là lao động và lao động tạo ra mọi của cải cho đất nước (Kết quả nghiên cứu của Adam Smith trích trong Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung, 2008). Như vậy, qua khẳng định của Adam Smith cho ta thấy sự phát triển kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. Do đó, làm thế nào để tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động có một ý nghĩa vô cùng to lớn.
Trong tác phẩm “Lý luận chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” xuất bản năm 1936, ông John Maynard Keynes khẳng định trong nền kinh tế, khi sản lượng tăng, thu nhập tăng, đầu tư tăng thì việc làm tăng và ngược lại (Kết quả nghiên cứu của John Maynard Keynes trích trong Trần Thị Minh Phương, 2015). Như vậy, qua khẳng định của J.M Keynes cho ta thấy để tăng việc làm, giảm thất nghiệp phải tăng tổng cầu của nền kinh tế gồm cả cầu tiêu dùng và cầu đầu tư. Trong Đề tài “Một số vấn đề phát triển xã hội nông thôn năm 2009”, tác giả Bùi Quang D ng đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề như tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, đào tạo nghề cho nông nghiệp, tình trạng di dân đô thị và nghèo đói của người lao động nông thôn Việt Nam,… Kết quả nghiên cứu cho thấy khi lượng lao động ở nông thôn di cư ra đô thị càng nhiều (do sự chênh lệch giàu nghèo giữa 123doc 8 đô thị và nông thôn) thì sức ép về việc làm ở đô thị càng lớn, khi đó người di cư phải đối mặt với nhiều khó khăn khi mưu sinh ở đô thị dẫn đến việc người di cư quay về nông thôn, gây nên tình trạng thiếu việc làm cho lao động nông thôn không di cư. Lý thuyết kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn Một báo cáo của Bộ phát triển Quốc tế Anh Quốc cho rằng kinh tế phi nông nghiệp nông thôn là một phần quan trọng của kinh tế nông thôn, cung cấp từ 40% đến 60% thu nhập và việc làm ở khu vực nông thôn (Davis, 2003).
Như vậy, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp có tác dụng nhiều mặt trong công cuộc phát triển nông thôn. Vì thế, cần phải phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ làm chuyển dịch lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp góp phần tăng trưởng kinh tế. Chính sách việc làm cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956 Các chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm ở cấp trung ương và địa phương nói chung, theo Quyết định 1956 nói riêng có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tạo việc làm cho người lao động. Ở Trung ương, các chính sách về việc làm cho người lao động nông thôn theo Quyết định 1956 đã được ban hành như: Quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”; Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”; Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ “Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng”;… Ở địa phương, để triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Trà Vinh và huyện Châu Thành đã cụ thể hóa bằng các chương 123doc 9 trình, kế hoạch cho từng giai đoạn và hàng năm.
Cụ thể như: Quyết định số 2021/QĐ-UBND ngày 12/11/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh “Về việc phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Quyết định số 466/QĐ-UBND ngày 07/4/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh “Về việc phê duyệt danh mục nghề và mức chi phí đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng cho lao động nông thôn, người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Trà Vinh; Quyết định số 586/QĐ-UBND ngày 21/3/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh “Về việc phê duyệt danh mục nghề và định mức chi phí đào tạo cho từng nghề trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng cho lao động nông thôn, người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Trà Vinh; Kế hoạch dạy nghề lao động nông thôn trên địa bàn huyện Châu Thành giai đoạn 2011 - 2016; Kế hoạch dạy nghề lao động nông thôn trên địa bàn huyện Châu Thành giai đoạn 2017 - 2020;… 2. Vai trò, ý nghĩa của đào tạo nghề, giải quyết việc làm phi nông nghiệp cho lao động nông thôn Việc làm là nhu cầu của tất cả mọi người lao động, nhằm đem lại thu nhập cho bản thân và gia đình họ một cách hợp lý, tạo một nguồn thu nhập chính đáng, để trang trải cho hoạt động đời sống của bản thân, thỏa mãn nhu cầu của gia đình và tiết kiệm hoặc đem lại tích l y (Hoàng Tú Anh, 2012). Như vậy, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung, lao động phi nông nghiệp ở nông thôn nói riêng sẽ giúp người lao động có cuộc sống ổn định, góp phần quan trọng trong xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội địa phương, hạn chế được những phát sinh tiêu cực xã hội do thiếu việc làm gây ra. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đào tạo nghề 2.
General education and vocational education Nghiên cứu nhằm đo lường lợi ích (thông qua thu nhập) của chương trình giáo dục và đào tạo nghề ở Ấn Độ. Đối tượng nghiên cứu là nhóm dân số từ 15 đến 59 tuổi đã rời khỏi trường học, dựa trên kết quả khảo sát lần thứ 66 của National 123doc 10 Sample Survey về việc làm và thất nghiệp. Cuộc khảo sát diễn ra ở 7.252 đô thị của Ấn Độ, từ tháng 7/2009 đến tháng 6/2010, bao gồm 100.957 hộ gia đình và 459.784 người dân. Nghiên cứu ước lượng phương trình tiền lương Mincer bằng mô hình OLS, OLS mở rộng và Heckman 2 giai đoạn.