Chương 1: Téng quan tài liệu Chương 2: Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả và bàn luận 'Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo. Quyết định giao đề tài luận văn Phụ lục CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU THỜI TIẾT CỰC ĐOAN 1. Một số khái niệm - Các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt“thời tiết cực đoan: là các hiện tượng trong đó các yếu tố khí tượng nằm ở hai phía, thậm chí vượt ra ngoài các cực trị của đao động thời tiết (các hiện tượng khí tượng dị thường, thiên tai như: mưa lớn, hạn hán và lũ lụt, rét hại, bão, tố, lốc,.
Các hiện tượng thời tiết cực đoan thực chất là các thiên tai xảy ra bất thường, gây ra các tồn hại to lớn cho tự nhiên và đời sống xã hội [7] - BĐKH là thách thức lớn nhất của loài người trong thể kỷ: XXI: Nhiều chuyên gia đều nhất trí rằng “BĐKH mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng đang là thách thức lớn nhất của nhân loại trong thé ky XI”. Vi BDKH tac động một cách mạnh mẽ và lâu dài tới tất cả các vùng, miễn, các lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu. Để ứng phó một cách hiệu quả với BĐKH cần phải có sự quyết tâm, đồng thuận cao và sự đầu tư lớn về sức lực, trí tuệ và tài chính của cả cộng đồng quốc tế [7]. - Dễ bị tồn thương: DBTT là trạng thái một cá nhân, hộ gia đình hay.
một cộng đồng bị tác động bởi các điều kiện bất lợi làm hạn chế khả năng ngăn chặn, giảm nhẹ, phòng ngừa hoặc ứng phó với một hiểm họa [4]. ~ Thiên tai: Là các hiện tượng tự nhiên như bão, lũ lụt, hạn hán, núi lửa phun trào, sóng thần, vòi rồng (lốc xoáy), trượt lỡ đất đá,. gây ra sự tổn hại về người và vật chất cho cộng đồng và cho hệ sinh thái [7]. Trên thế giới Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang chịu sự tác động từ các biến động bắt thường của khí hậu toàn cầu.
Trên bề mặt Trái đất, khí quyển và thủy quyển không ngừng nóng lên làm xáo động môi trường, gây ra nhiều hệ lụy đối với đời sống con người. Nguyên nhân chính là do các hiện tượng TTCĐ. tác động lên hành tỉnh chúng ta. Từ những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, các nhà khoa học hàng đầu thế tai các trung tâm nghiên cứu khoa học đã bắt tay vào nghiên cứu sự thay đôi bất thường của khí hậu.
Năm 1988, Tổ chức Liên Chính phủ về BĐKH của Liên Hiệp quốc International Panel on Climate Change (IPCC) được thành lập bởi Tổ chức Khí tượng Thế giới World Meteorological Organization (WMO) và Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc United Nations Environment Programme (UNEP) đã thu hút sự tham gia của hàng ngàn nhà khoa học quốc tế. Tổ chức này đã đưa ra lý thuyết về hiệu ứng nhà kính (HƯNK) [40]. Nam 1990, IPCC đã công bố các nghiên cứu về BĐKH, bao gồm hiện tượng nóng lên toàn cầu, khí nhà kính, HƯNK, nước biển dâng, các tác nhân khí hậu, lịch sử thay đổi của khí hậu Trái Đắt và trở thành một cơ sở khoa học khi nghiên cứu về vấn đề này. Dựa trên việc mở rộng, cải thiện khối lượng lớn dữ liệu quan trắc và phân tích có độ tin cậy cao, IPCC đã đưa ra những bằng chứng mạnh mẽ rằng hiện tượng nóng lên toàn cầu quan trắc thấy trong 50 năm qua là do các hoạt động của con người [40] Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh do Liên Hiệp Quốc triệu tập tại Rio de Janeiro (Brazil) đã thông qua Hiệp định khung và Chương trình hành động quốc tế 21 nhằm cứu văn tình trạng “xấu đi” nhanh chóng của bầu khí quyền Trái đất, vốn được coi là nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng hiểm họa từ các hiện tượng TTCD.
Năm 1997, tại Hội nghị Kyoto, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua. Đến đầu tháng 2/2005 đã được nguyên thủ của 165 quốc gia, trong đó có Việt Nam phê chuẩn. Nghị định thư này bắt đầu có hiệu lực từ 10/2/2005. Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư Kyoto ngày 25/9/2005 [41].
Nghị định thu Kyoto đã mở ra một hướng mới giúp các Quốc gia trên thế giới xích lại gan nhau hơn, đồng thời chia sẻ trách nhiệm giữa các nước phát triển với các nước đang hoặc chậm phát triển. 'Vào những năm 1998 - 2003, Subbiah và cs, thuộc trung tâm sẵn sảng ứng phó với thiên tai châu Á. Asian Disaster Preparedness Center (ADPC) đã nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thông tin về khí hậu để giảm thiểu các rủi ro thiên tai. Hệ thống thông tin này bao gồm một chương trình liên tục của các hệ dự báo, sự phô biến, sự áp dụng và đánh giá kết quả.
Nhờ hệ thống này mà người dân có thể chuyên đổi cơ cấu cây trồng và thay đổi mùa vụ phù hop với điều kiện biến đôi của thời tiết, khí hậu [20]. Trong báo cáo của IPCC (International Panel on Climate Change) nim 2004, đã trình bày những kết quả nghiên cứu để trả lời câu hỏi tại sao nhiệt độ trái it thay đổi ảnh hưởng lớn đến khí hậu, các đặc điểm vật lý và diễn thế các đặc điểm đó của Trái đất. Các đặc điểm này lại tác động đến nơi sống các loài sinh vật và sự phát triển kinh tế của con người. Báo cáo cũng đã đưa ra kết luận ø, nhiệt độ Trái đất trong thế kỷ XX đã tăng lên trung bình 0,6°C làm cho nhiều vùng băng hà, tăng diện tích phủ tuyết, vùng băng vĩnh cửu bị tan chảy, nước biển giãn nở dẫn đến mực nước biên dâng lên.
Nhiều dấu hiệu đã cho thấy tác động của BĐKH ảnh hưởng ngày một sâu rộng đến các hệ sinh thái. Cụ thể là: Hàng trăm loài thực vật và động vật đã buộc phải thay đổi vùng phân bó, thời gian, chu kỳ sống của chúng đề thích ứng với sự BĐKH. 'Vùng phân bồ của nhiều loài cây, côn trùng, chim, cá đã chuyển dịch lên phía Bắc và vùng cao hơn, nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài chim bắt đầu mùa di cư sớm hơn, nhiều loài động vật vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều loài côn trùng xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu, san hô bị chết trắng ngày càng nhiều [37]. Báo cáo triển vọng môi trường toàn cầu của Liên Hiệp Quốc (2007) đã nhận định: BĐKH với sự gia tăng các hiện tượng TTCĐ đang gây ra tình trạng suy thoái môi trường trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi thế giới phải hành động khẩn cấp hơn bao giờ hết.
TTCĐ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhiều loài sinh vật và sự phát triển của con người [37] Ramamasy va Bass (2007) đã nghiên cứu và xuất bản cuốn sách: “BĐKH và sự thay đổi thích ứng với hạn hán ở Bangladesh”; đây là tài liệu quan trọng cho cán bộ khuyến nông, các nhóm chuyên về kỹ thuật, các nhóm quản lý thiên tai, đại diện cho cộng đồng đề thích ứng và ứng phó với BĐKH, đặc biệt là sự gia tăng thường xuyên của hạn hán ở Bangladesh, một Quốc gia đứng đầu về tác động của BĐKH [I8] Lyndsay (2008) đã công bố công trình nghiên cứu thích ứng với BĐKH và nâng cao năng lực bảo tồn tài nguyên nước của chính quyền địa phương, chính phủ, các bên liên quan, các tổ chức quản lý tài nguyên nước tại Ontario, Canada. Nghiên cứu này đã chỉ ra một số biện pháp thích ứng và nâng cao năng lực quản lý bằng các thẻ chế, kế hoạch, chính sách của các cấp chính quyền. về các nguồn tài nguyên nước [9] Ngày 19/7/2011, báo cáo đánh giá toàn cầu về giảm nhẹ rủi ro thiên tai 2011 do Bộ NN&PTNT Việt Nam phối hợp với Chương trình phát triển LHQ. tại Việt Nam và Cơ quan Chiến lược giảm thiểu thiên tai quốc tế của LHQ (UNISDR) tổ chức tại Hà Nội, đã chỉ rõ xu thế rủi ro về con người trên toàn cầu do các hiểm họa lớn liên quan đến khí hậu có xu hướng giảm đi, so với 20 năm trước, nguy cơ thiệt hại về người do bão nhiệt đới hay lũ đã thấp hơn.
Dự báo thiệt hại kinh tế tiếp tục gia tăng ở tất cả các khu vực và đe doạ nghiêm trọng nền kinh tế của các nước có thu nhập thấp. Ước tính, tỷ trọng GDP của toàn thế giới có nguy cơ bị ảnh hưởng do bão đã tăng từ 4,13% (năm 1970) lên 4,47% (năm 2010), tương đương với 1,5 nghìn tỷ USD. Điều nay một lần nữa cho thấy, nền kinh tế mạnh cũng không thẻ tránh khỏi rủi ro thiệt hại về kinh tế do thảm họa thiên tai và khí hậu cực đoan [39], Tại Hội nghị của LHQ về BĐKH được tổ chức tại thủ đô Doha, Quatar (2013), đại diện của 27 quốc gia thành viên liên minh châu Âu (EU), Australia và Thụy Sÿ cùng 8 nước công nghiệp khác trên thế giới đã ký thỏa thuận gia hạn Nghị định thư Kyoto từ ngày 1/1/2013 đến năm 2020, trong khi chờ một thỏa thuận quốc tế mới về cắt giảm khí nhà kính (còn được gọi là Nghị định thư “hậu Kyoto”. Kết quả này của hội nghị được xem là bước đi quan trọng tiến tới một thỏa thuận quốc tế mới của LHQ dự kiến sẽ thông qua vào năm 2015 và có thể có hiệu lực vào năm 2020 khi thời hạn kéo dài của Nghị định thư Kyoto kết thúc [42].
Ở Việt Nam Ở Việt Nam trong những thập niên gần đây, thiên tai ngày càng gia tăng cả về cường độ, quy mô cũng như chu kỳ lặp lại, kèm theo những đột biến khó lường. Chỉ tính 15 năm gần đây (1998-2013), các thiên tai như: bão, la, lốc tố,. đã gây thiệt hại đáng kể về người, tài sản của nhà nước và nhân dân, làm chết, mắt tích 5.155 người, bị thương 5.530 người; làm đổ, trôi, ngập, hư hỏng khoảng 5. Thiệt hại về vật chất lên tới 55.
Năm 1993, Trần Đức Lương có bài viết hiểm họa của BĐKH - Hội thảo Quốc gia về BĐKH - Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) tổ chức. Bài iết của tác giả đã nêu lên các nguyên nhân gây ra BĐKH, các hiểm họa đã xảy ra đối với nhân loại trên thể giới và Việt Nam [8]. Năm 1994, Ngân hàng phát triển châu A (ADB) đã xếp Việt Nam nằm. trong nhóm có nguy cơ tốn thương cao do tác động của BĐKH.
Hiệp định khung về BĐKH của LHQ đã dẫn thông báo đầu tiên của Việt Nam cho biết, trong suốt 30 năm qua, mực nước biển quan trắc dọc theo bờ biển Việt Nam có dấu hiệu gia tăng.