PHẦN MỞ ĐẦU Chƣơng 1: Tổng quan về công tác lựa chọn mức tăng trưởng giao thông trong công tác thiết kế đường ô tô ở tỉnh Bình Thuận; Chƣơng 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ tăng trưởng giao thông đến công tác thiết kế và khai thác trên một số trục đường chính của tỉnh Bình Thuận; Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp để khắc phục một số hạn chế do lựa chọn mức độ tăng trưởng giao thông không hợp lý trên một số trục chính trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC LỰA CHỌN MỨC ĐỘ TĂNG TRƢỞNG GIAO THÔNG TRONG CÔNG TÁC THIẾT KẾ ĐƢỜNG Ô TÔ Ở TỈNH BÌNH THUẬN 1. Tổng quan về tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bình Thuận 1. Tổng quan về tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bình Thuận [19] - Vị trí địa lý: Bình Thuận là tỉnh ven biển thuộc miền Nam Trung Bộ, có mối liên hệ và nằm trong khu vực ảnh hưởng tác động mạnh mẽ của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN).
Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, Đông - Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, Tây Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Đông Nam giáp biển Đông với bờ biển dài 192km và vùng lãnh hải rộng: 52. Tỉnh nằm giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Nha Trang, giao thông đối ngoại có Quốc lộ 1A với chiều dài 181,434 km và 180 km đường sắt Thống Nhất chạy qua nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước; Quốc lộ 28 nối liền Phan Thiết với các tỉnh Nam Tây Nguyên; Quốc lộ 55 nối liền với trung tâm dịch vụ dầu khí - du lịch Vũng Tàu và trung tâm du lịch Đà Lạt, Lâm Đồng. Với vị trí địa lý như trên tạo cho Bình Thuận khả năng giao lưu kinh tế thuận lợi và chặt chẽ với các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng Duyên Hải miền trung. Sức hút của các thành phố và các trung tâm phát triển như TP.HCM, Vũng Tàu, Nha Trang tạo điều kiện cho tỉnh đ y mạnh sản xuất hàng hoá, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật.
Đồng thời cũng là một thách thức lớn đặt ra cho Bình Thuận phải phát triển nhanh nền kinh tế, nhất là những ngành mũi nhọn theo thế mạnh đặc thù để mở rộng liên kết, không bị tụt hậu so với khu vực. Bản đồ vị trí địa lý tỉnh Bình Thuận Hiện tại tỉnh Bình Thuận có 10 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện với 19 phường, 12 thị trấn và 96 xã, cụ thể: Thành phố Phan Thiết: 14 phường và 04 xã; Thị xã La Gi: 5 phường và 4 xã; Huyện Tuy Phong: 2 thị trấn và 11 xã; Huyện Bắc Bình: 2 thị và 16 xã; Huyện Hàm Thuận Bắc: 2 thị trấn và 15 xã; Huyện Hàm Thuận Nam: 1 thị trấn và 12 xã; Huyện Tánh Linh: 1 thị trấn và 13 xã; Huyện Hàm Tân: 2 thị trấn và 8 xã; Huyện Đức Linh: 2 thị trấn và 11 xã; Huyện đảo Phú Quý: 3 xã. Tiếp giáp liền kề với vùng KTTĐ phía Nam, giao lưu thuận lợi với các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, có bờ biển dài và đẹp, Bình Thuận có nhiều cơ hội để phát triển nhanh kinh tế - xã hội (đặc biệt là kinh tế biển và du lịch), tiếp thu những thành tựu khoa học-công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời Bình Thuận có vị trí quan trọng trong chiến lược bảo vệ an ninh biển đảo quốc gia.
Bản đồ hành chính tỉnh Bình Thuận - Dân số: Dân số trung bình của Bình Thuận năm năm 2014 là 1.398 người, năm 2015 đạt 1.400 người; tốc độ tăng dân số trung bình giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 0,69%/năm. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Bình Thuận hiện chiếm khoảng 59,0%, còn lại là không tham gia lao động (dưới và trên tuổi lao động). Do đặc điểm về vị trí và địa hình, dân số Bình Thuận phân bố không đều, phần lớn dân cư tập trung ở đồng bằng ven biển và lưu vực các sông. Dân số nữ và dân số nam của tỉnh tương đương nhau, biến động không nhiều.
Tỷ lệ dân số nông thôn của tỉnh trong giai đoạn 2011-2015 biến động không nhiều, chiếm khoảng 60,7% vẫn còn cao. Chất lượng dân số: Tỷ lệ dân số chưa đi học chiếm 6,6%; tỷ lệ dân số có trình độ học vấn chưa hết tiểu học chiếm 29,9%; tỷ lệ dân số có trình độ học vấn hoàn thành tiểu học chiếm 36,3%; tỷ lệ dân số có trình độ học vấn tốt nghiệp THCS chiếm 17,7%; tỷ lệ dân số có trình độ học vấn tốt nghiệp THPT trở lên chiếm 9,5%. - Cơ cấu lao động: 7 Lao động việc làm tăng bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 2,33%, trong đó: Lao động khu vực nhà nước có xu hướng tăng chậm 1,36%/năm, khu vực ngoài nhà nước tăng 2,33%/năm, cao nhất là khu vực FDI tăng 15,47%/năm. Cơ cấu lao động có xu hướng giảm dần khu vực nhà nước, tăng dần khu vực ngoài nhà nước và FDI.
Lao động làm việc ở khu vực nông thôn của tỉnh hiện đạt khoảng 60%, trong đó lao động nông nghiệp chiếm khoảng 46%. Tỷ trọng lao động thành thị (chủ yếu là phi nông nghiệp) của tỉnh hiện mới đạt khoảng 40,0% tổng số lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ở các trình độ từ trung cấp, cao đẳng và đại học trở lên chỉ chiếm khoảng 13,0% vào năm 2015. Cơ cấu lao động tỉnh Bình Thuận [22] Đơn vị: Người, % Tg (%) Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 2014 Ƣ2015 2011-15 Lao động làm việc 627.
Theo loại hình kinh tế: - Nhà nước 42.677 1,36 % so với LĐ làm việc 6,81 6,69 6,69 6,62 6,57 6,49 - Ngoài nhà nước 582.986 2,33 % so với LĐ làm việc 92,80 92,84 92,74 92,79 92,74 92,78 - Khu vực FDI 2.067 15,47 % so với LĐ làm việc 0,39 0,47 0,58 0,59 0,69 0,72 2. Theo Thành thị-N.thôn: - Thành thị 239.227 2,96 % so với LĐ làm việc 38,21 37,68 38,78 38,95 39,34 39,39 - Nông thôn 387.573 1,94 % so với LĐ làm việc 61,79 62,31 61,23 61,04 60,66 60,61 3. Theo ngành kinh tế: - Nông, lâm và thủy sản 329.044 -0,40 % so với LĐ làm việc 52,6 50,7 49,4 48,2 47,0 45,9 - Công nghiệp – xây dựng 109.909 6,49 % so với LĐ làm việc 17,5 18,0 18,8 19,6 20,5 21,3 - Dịch vụ 200.846 2,89 % so với LĐ làm việc 31,9 31,8 31,8 32,2 32,5 32,8 4. Số LĐ đƣợc tạo việc làm 23.nghiệp KV Th/thị 5,0 4,9 4,8 4,7 4,6 4,5 6.
TL lao động qua đào tạo 28,0 32,0 37,0 43,1 49,0 55,0 7.suất cả nước (Tr.đ/LĐ) 44,0 55,2 63,1 68,7 73,9 79,7 Tỉnh so với cả nước (%) 83,8 82,4 78,2 77,4 78,0 81,5 8 - Tình hình tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Thuận: Theo nguồn niên giám Thống kê năm 2015 của tỉnh Bình Thuận [9] Tổng GRDP toàn tỉnh Bình Thuận theo giá hiện hành năm 2015 là 43. Trong đó, khu vực kinh tế nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 12.645 tỷ đồng (chiếm 30,58% GRDP), khu vực kinh tế công nghiệp và xây dựng đóng góp 10.946 tỷ đồng (chiếm 24,23% GRDP), khu vực kinh tế dịch vụ đóng góp 17.723 tỷ đồng (chiếm 40,76% GRDP), thu thuế sản ph m trừ trợ cấp sản đạt 1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP giá so sánh 2010) giai đoạn 2011-2015 của tỉnh ước đạt 6,72%/năm Hình 1. Biểu đồ động thái tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Thuận [9] Tổng gia tăng GRDP 5 năm 2011-2015 của tỉnh Bình Thuận đạt khoảng 8.997 tỷ đồng, trong đó: Khu vực III đóng góp cao nhất khoảng 48,1%, tiếp đến là Khu vực II đóng góp khoảng 29,24%, sau cùng là Khu vực I đóng góp khoảng 20,11%.
Trong tốc độ tăng trưởng 6,79%/năm giai đoạn 2011-2015 thì Khu vực vực III đóng góp cao nhất khoảng 3,27% vào tăng trưởng, Khu vực II khoảng 1,99%, và Khu vực I khoảng 1,37%. Đóng góp vào tăng trưởng GRDP của tỉnh Bình Thuận [9] GRDP (giá 2010, Đóng góp vào Gia tăng GRDP Chỉ tiêu tỷ đồng) tăng trƣởng 2010 2015 2011-2015 % (%) Tổng 23.997 100,0 6,79 9 GRDP (giá 2010, Đóng góp vào Gia tăng GRDP Chỉ tiêu tỷ đồng) tăng trƣởng 2010 2015 2011-2015 % (%) Nông lâm ngư nghiệp 7.809 20,11 1,37 Công nghiệp – xây dựng 5.328 48,10 3,27 Thuế SP trừ trợ cấp SP 1.374 229 2,55 0,17 - Đánh giá chung hiện trạng kinh tế – xã hội của tỉnh [22]: Trong những năm gần đây, mặc dù còn nhiều khó khăn tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhưng nhìn chung nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá; phần lớn các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt kế hoạch; trên từng mặt, từng lĩnh vực có sự chuyển biến tiến bộ. Sản xuất công nghiệp có bước phát triển, hầu hết các doanh nghiệp giữ vững hoạt động, phần lớn các sản ph m công nghiệp chủ yếu đều tăng so với năm trước. Các dự án điện được triển khai tích cực; nhất là xây dựng nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2, hoàn thành dự án phong điện 1.
Công tác chu n bị đầu tư và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có chú ý hơn. Hoạt động du lịch tiếp tục phát triển, lượng du khách và doanh thu tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước, các loại hình dịch vụ thể thao trên biển lợi thế của địa phương được phát huy, chất lượng phục vụ tốt hơn, tình hình an ninh trật tự, giá cả dịch vụ du lịch ổn định. Công tác quảng bá du lịch có tiến bộ, lần đầu tiên tỉnh tổ chức một số sự kiện văn hoá thể thao du lịch mang tính quốc tế. Nông nghiệp phát triển khá và tương đối toàn diện.
Đã tập trung chỉ đạo mùa vụ sản xuất, phát huy tốt các công trình thủy lợi được đầu tư và thực hiện các giải pháp chống hạn kịp thời nên sản lựợng lương thực vượt kế hoạch. Thương mại nội địa, lưu thông hàng hóa bảo đảm; hoạt động thông tin và truyền thông tiếp tục phát triển; dịch vụ vận tải hàng hóa, hành khách ổn định, đáp ứng nhu cầu đi lại và vận tải hàng hóa của nhân dân. Xuất kh u có nhiều cố gắng. Tiến độ thực hiện các công trình xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước, nhất là các công trình thuộc nguồn vốn trái phiếu chính phủ đạt khá; 10 được sự hỗ trợ và giúp đỡ của Trung ương đã xây dựng một số công trình có ý nghĩa quan trọng như: đường ĐT.