CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Bối cảnh chính sách Việt Nam tiếp tục chứng tỏ vị thế của một cường quốc sản xuất sản phẩm may mặc lớn. Năm 2016, Việt Nam là nước xuất khẩu may mặc lớn thứ tư thế giới với kim ngạch đạt khoảng 28,1 tỷ USD (Cục Xuất nhập khẩu, 2017).
Dù Hoa Kỳ đã rút khỏi TPP, Việt Nam ngày càng sản xuất dệt may nhiều lớn cho thị trường này, thể hiện bằng xu hướng nguồn hàng đang là “Trung Quốc cộng Việt Nam cộng Nhiều nước khác” thay thế cho “Trung Quốc cộng Nhiều nước khác”; Cụ thể, khoảng 88% DN phân phối cho thị trường Hoa Kỳ sử dụng nguồn hàng từ Việt Nam, với tỷ trọng 11–30% tổng giá trị hoặc khối lượng nguồn hàng của DN (Sheng Lu và USFIA, 2017). Ngoài ra, theo dự báo của WB (2016), ngành dệt may sẽ tiếp tục thuộc nhóm bốn ngành xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Xét khía cạnh giá trị gia tăng, ngành dệt may vẫn phản ánh sự phát triển thiếu bền vững. Ngoại trừ tỷ lệ nội địa hóa1, các chỉ tiêu phát triển ngành dệt may năm 2015 đều đạt được như kim ngạch xuất khẩu, lao động, và sản phẩm chủ yếu (chi tiết Phụ lục 1).
Giá trị gia tăng tương đối thấp một phần do sự lệ thuộc nguyên phụ liệu nhập khẩu cho hoạt động xuất khẩu. Đến nay, Frederick (2017) chỉ ra ngành này đang đối mặt hai thách thức chính là phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu và cạnh tranh phần lớn dựa vào mức giá thấp. Trong khi đó, nhiều văn bản chính sách cũng đã đề cập giải pháp cho vấn đề này như Quy hoạch phát triển ngành đến năm 2020; Đề án Tái cơ cấu ngành công thương; Chương trình đồng bộ phát triển và nâng cấp cụm ngành và chuỗi giá trị sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Đề cập đến dệt may Việt Nam không thể không nói đến vùng TP.HCM – Bình Dương – Đồng Nai, sau đây gọi là vùng TP.
Do vùng TP.HCM đóng góp vào toàn ngành hơn 56% giá trị xuất khẩu công nghiệp, 35% kim ngạch xuất khẩu và gần 30% lực lượng lao động trong năm 2011 (IPP/CIEM, 2013). Nghiên cứu của IPP/CIEM (2013) chỉ ra cụm ngành dệt may vùng TP.HCM “khá ngắn” tập trung may gia công với giá trị gia tăng thấp, chủ yếu dựa vào lợi thế chi phí lao động giá rẻ. Với bối cảnh trên, bài viết này muốn đánh giá chính sách đã tác động gì đến NLCT ngành dệt may thông qua đại diện tiêu biểu là cụm ngành vùng TP.HCM trong giai đoạn vừa qua. 1 Cần lưu ý có thể tỷ lệ nội địa hóa được hiểu là tỷ lệ giá trị gia tăng, được tính bằng tỷ phần xuất khẩu ròng (là giá trị xuất khẩu trừ nhập khẩu cho xuất khẩu) so với tổng kim ngạch xuất khẩu (xem thêm Phụ lục 1).
Ngoài ra, tỷ lệ nội địa hóa thấp hơn 4 điểm phần trăm so các mục tiêu 55%. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -2- Xuất phát từ nghiên cứu IPP/CIEM (2013), bài viết này trình bày tác động của ba nhóm chính sách có tác động lớn NLCT của cụm ngành dệt may vùng TP.HCM gồm: sản xuất nguyên phụ liệu nội địa, nhân lực phục vụ nâng cấp và điều kiện cầu trong nước. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này hướng đến đánh giá tác động của các chính sách đến NLCT của cụm ngành dệt may vùng TP. Trên cơ sở phân tích, một số khuyến nghị chính sách được thảo luận để nâng cao NLCT của cụm ngành dệt may vùng TP.HCM nói riêng và ngành dệt may Việt Nam nói chung.
Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài phân tích này tập trung trả lời cho hai câu hỏi chính sau: Câu hỏi 1. Chính sách đã tác động gì đến NLCT của cụm ngành dệt may vùng TP.HCM? Câu hỏi 2. Những chính sách nào cần được khuyến khích để thực hiện nâng cấp chuỗi giá trị và hoàn thiện cụm ngành dệt may vùng TP. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các chính sách có tác động đến NLCT của cụm ngành dệt may vùng TP.
Nghiên cứu này lựa chọn phân tích một số chính sách có tác động lớn tương ứng ba nhóm chính là sản xuất nguyên phụ liệu nội địa, nhân lực phục vụ nâng cấp và điều kiện cầu trong nước; cụ thể gồm: phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nguồn nhân lực, chính sách liên quan đến lao động, dịch vụ logistics và thủ tục hải quan, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường nội địa và chống hàng giả, và hoạt động của hiệp hội.HCM gồm ba địa phương là TP.HCM, Bình Dương, và Đồng Nai. Phạm vi nghiên cứu giới hạn là các chính sách được ban hành trong giai đoạn năm 2013 – 2016. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính gồm tổng quan các nghiên cứu trước kết hợp phỏng vấn sâu đối với đại diện hiệp hội VITAS, AGTEK và một số DN. Khung phân tích là lý thuyết về cụm ngành của Michael Porter kết hợp chuỗi giá trị toàn cầu của Gary Gereffi.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -3- Nguồn dữ liệu sơ cấp chính gồm 10 phỏng vấn sâu DN. Mô tả các DN được phỏng vấn thể hiện tại Phụ lục 2; Câu hỏi phỏng vấn DN được trình bày tại Phụ lục 3; Mỗi phỏng vấn được kéo dài từ 1 – 2 giờ. Phỏng vấn các DN nhằm xác định các nhóm chính sách chính tác động đến DN dệt may quan tâm. Nhóm DN được hiệp hội giới thiệu (trừ 3 DN liên hệ trực tiếp) là nhóm DN đã và đang hoạt động có giá trị gia tăng cao như thực hiện các chức năng phức tạp ODM, OBM hoặc thực hiện nâng cấp quy trình và nâng cấp sản phẩm trong chức năng CMT hoặc FOB.
Ngoài ra, các hội thảo mà tác giả tham dự do hiệp hội tổ chức hoặc liên kết tổ chức từ tháng 1/2016 đến 6/2016; Những phỏng vấn đại diện VITAS và AGTEK cũng cung cấp một số đánh giá thực tế về một số chính sách có liên quan tại vùng TP. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cập gồm nghiên cứu học thuật liên quan đến ngành dệt may Việt Nam và nâng cấp công nghiệp ở ngành dệt may, cũng như báo cáo của một số tổ chức liên quan như WB, ILO, VCCI, và Bộ Công Thương. Các nghiên cứu và báo cáo này là cơ sở đối chiếu với các chính sách trong giải quyết các thách thức của cụm ngành. Hoạt động tổng hợp và phân tích chính sách được dựa trên các văn bản quy định liên quan được hệ thống thành nhóm chính sách có liên quan, và một số trả lời các cơ quan truyền thông của các cơ quan chức năng được sử dụng bổ sung.
Bố cục nghiên cứu Nghiên cứu trình thành 4 phần tương ứng 4 chương. Phần đầu tiên và phần cuối cùng lần lượt trình bày tổng quan nghiên cứu và kết luận. Chương 2 trình bày khung lý thuyết về cụm ngành và chuỗi giá trị toàn cầu, cùng với tổng quan nghiên cứu của IPP/CIEM (2013) và một số nghiên cứu liên quan khác. Chương 3 trình bày kết quả nghiên cứu, gồm so sánh các quan điểm phát triển cũng như đánh giá tác động của một số chính sách tác động đến các khu vực của chuỗi giá trị và cụm ngành.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu chính sách cải thiện NLCT ngành dệt may. Đầu tiên, lý thuyết năng lực cạnh tranh và cụm ngành của M. Porter được giới thiệu.
Tiếp cận chính sách dựa vào cụm ngành phản ánh đòi hỏi đặt sự phát triển ngành trong tương tác toàn diện của nhiều lĩnh vực thay vì một chính sách ưu đãi cho một ngành thường dẫn đến bóp méo cạnh tranh. Sau đó, lý thuyết chuỗi giá trị phản ánh việc phân chia lợi ích giữa các DN đối sản phẩm dệt may. Phần cuối cùng tổng hợp một số nghiên cứu trước chỉ ra kinh nghiệm thực thi chính sách tại Trung Quốc cũng như một số nghiên cứu liên quan đến chuỗi giá trị dệt may Việt Nam. Năng lực cạnh tranh và cụm ngành Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết NLCT và cụm ngành của Michael E.
NLCT được đo lường bằng năng suất – giá trị gia tăng do một đơn vị lao động hoặc vốn tạo ra trong một đơn vị thời gian (Porter, 1998). Theo Porter (1998, 2008), cụm ngành là “sự tập trung về mặt địa lý của các DN, các nhà cung ứng và các DN có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ (như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại) trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau”. Cụm ngành tác động gia tăng cạnh tranh và thúc đẩy hợp tác. Nhờ tạo ra hiệu ứng mạng lưới và lan tỏa, năng suất, hiệu quả, đổi mới, hoạt động thương mại hóa và khởi nghiệp được tăng lên (IPP/CIEM, 2013).
NLCT của một địa phương thường đánh giá cùng với Mô hình kim cương của Porter (1998), gồm: (i) những điều kiện nhân tố đầu vào, (ii) bối cảnh chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh, (iii) những điều kiện cầu, và (iv) những ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan. Xét vai trò chủ động nhất, nhà nước hình thành hệ thống chính sách kinh tế dựa vào thúc đẩy những cụm ngành có tiềm năng phát triển. Tiếp cận chính sách dựa vào cụm ngành tạo ra chương trình nghị sự cho nhiều bên hữu quan như chính phủ, DN, các cơ sở đào tạo,… trong việc khuyến khích hoạt động đổi mới thay cho khuynh hướng trợ cấp thường bóp méo thị trường (Porter, 2008). Mô hình này được trình bày chi tiết theo nghiên cứu IPP/CIEM (2013).
Vậy, phần phân tích sẽ so sánh quan điểm phát triển của Chính phủ với tiếp cận cụm ngành. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tác động chính sách công đến các nhân tố mô hình kim cương Nguồn: (Porter, 1998). Mục đích nghiên cứu là phân tích tác động của Nhà nước đến NLCT của cụm ngành, được minh họa như Hình 2.
Vai trò của nhà nước có thể là tích cực hoặc tiêu cực thông qua tác động đến các thành tố trong cụm ngành (Porter, 1998). Nếu chính sách giúp gia tăng các nhân tố trong mô hình kim cương thì cụm ngành có tiềm năng phát triển hơn, hoặc ngược lại là tác động kìm hãm của chính sách. Ngẫu nhiên là một yếu tố khác tác động đến các nhân tố trong mô hình kim cương. Tuy nhiên, bài viết nhằm đề xuất giải pháp chính sách nâng cao NLCT, nên không đề cập yếu tố ngẫu nhiên mà tập trung xem xét tác động chính sách đến cụm ngành.