Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân bố tự nhiên và đặc điểm của một số loài Bạch đàn 1. Bạch đàn urô Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla) có nguồn gốc từ Indonesia, phân bố chủ yếu 7030 - 100 vĩ độ Nam và 122 - 1270 kinh Đông trên các dốc núi và trong các thung lũng trên các loại đất bazan, diệp thạch (schits) và phiến thạch, đôi khi mọc ở núi đá vôi. Bạch đàn urô phân bố ở độ cao 300 - 2960m trên mặt biển (chủ yếu ở độ cao 1000 - 2000m), lượng mưa trung bình hàng năm 600 - 2200mm/năm với 2 - 8 tháng khô.
Các đảo chính có Bạch đàn urô phân bố tự nhiên là Flores (Egon và Lewotobi), Adona, Pantar, Alor, Wetar và Timor (Eldridge và cộng sự, 1994). Phân bố tự nhiên bạch đàn urô (Eldridge và cộng sự, 1994) Bạch đàn urô là loài cây gỗ lớn, nơi nguyên sản có thể cao 25 - 45m, đôi khi có thể đạt trên 55m, đường kính có thể đạt 1 - 2m. Bạch đàn urô có khả năng thích nghi với các lập địa khác nhau và đang được sử dụng để gây trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới (Turnbull & Brooker, 1978)[38]. Mặc dù Bạch đàn urô không được gây trồng thuần loài với diện tích lớn nhưng giống lai giữa Bạch đàn urô và các loài bạch đàn khác được sử PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 dụng rất rộng rãi trong trồng rừng ở các nước, cho vùng khí hậu mát, ẩm ở Brazil, Trung Quốc và Nam Phi, các giống lai chủ yếu là giống UG (Eucalyptus urophylla x Eucalyptus grandis), GU (Eucalyptus grandis x Eucalyptus urophylla) (Nguyễn Hữu Sỹ, 2020).
Bạch đàn pellita Bạch đàn pellita (Eucalyptus pellita) có hai vùng phân bố tự nhiên chính là phía nam đảo New Guinea (bao gồm tỉnh Irian Jaya của Indonesia và Papua New Guinea) và phía bắc bang Queensland, Australia. Ở phía nam đảo New Guinea, Bạch đàn pellita phân bố từ vùng Morehead và Keru thuộc Papua New Guinea ở vĩ độ 8030’ đến phía bắc Muting, Irian Jaya, Indonesia ở vĩ độ 7040’ Nam và chủ yếu ở độ cao dưới 100 m so với mực nước biển. Vùng này có đặc trưng khí hậu nhiệt đới ẩm với nhiệt độ trung bình năm 270C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 290C và tháng lạnh nhất là 250C và không chịu ảnh hưởng của mùa khô với lượng mưa hàng năm từ 1900 mm ở Morehead đến 2700 mm ở Muting, lượng mưa bình quân tháng từ 80 đến trên 120 mm (Van Rogel, 1963). Đặc điểm đất đai chủ yếu là dạng đất mùn có cát nâu, thoát nước tốt hoặc đất mùn sét phát triển trên phù sa bồi tích, độ pH từ 5 đến 6.
Ở vùng này, Bạch đàn pellita phân bố rải rác giữa vùng rừng thường xanh và rừng mưa bán rụng lá (Harwood, 1998). Ở phía bắc Queensland, Australia, Bạch đàn pellita phân bố từ Iron Range, Cape York Peninsula (vĩ độ 12044’ Nam) tới Ingham (vĩ độ 18036’ Nam), tập trung chủ yếu trong phạm vi 50 km dọc bờ biển ở độ cao dưới 600 m (Bootle, 1983; Gonzaga và cộng sự, 1983; Harwood, 1998). Vùng này có đặc trưng khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ trung bình năm khoảng 240C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 270C và tháng lạnh nhất là 190C, lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 2100 – 2200 mm và có mùa khô kéo dài khoảng 4 tháng lượng mưa trung bình tháng thấp hơn 40 mm (Harwood, 1998). PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Hình 1.
Phân bố tự nhiên Bạch đàn pellita (Nguồn: Harwood, 1998) Bạch đàn pellita được coi là tương lai của rừng trồng vùng nhiệt đới ẩm do sinh trưởng nhanh, khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt và tính chất gỗ rất phù hợp cho làm gỗ xẻ, làm giấy cũng như nhiều hình thức sử dụng khác. Mặc dù được đưa vào trồng rừng ở quy mô công nghiệp muộn hơn các loài Bạch đàn khác nhưng do có đặc tính sinh trưởng nhanh, khả năng nhân giống cao, thích nghi với phạm vi môi trường rộng, chống chịu sâu bệnh tốt, và phù hợp với nhiều mục đích sử dụng gỗ khác nhau nên Bạch đàn pellita và các giống lai đã được gây trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới như Indonesia, Malaysia, Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ (Harwood, 1998). Đặc điểm nổi bật của Bạch đàn pellita là khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt. Ở Ấn Độ, Bạch đàn pellita bị Ong u bướu (Leptocybe invasa) gây hại ít nhất trong số 4 loài gồm Bạch đàn pellita, uro, grandis và giống lai uro x grandis (Goud và công sự, 2010).
Sâu ăn lá Thyrinteina arnobia Stoll ảnh hưởng nghiêm trọng trên rừng trồng bạch đàn các loài tại bang Minas Gerais, Brazil; trong nghiên cứu với 11 loài bạch đàn cho thấy Bạch đàn saligna, Bạch đàn grandis là hai loài mẫn cảm nhất, tiếp theo là Bạch đàn urô, Bạch đàn cloeziana…, còn Bạch đàn pellita nằm trong nhóm kháng sâu cùng với Bạch đàn camal, Bạch đàn têrê. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Gỗ Bạch đàn pellita có màu đỏ đậm hoặc đỏ nhạt, màu sắc tương đối đồng nhất từ trong ra ngoài, thớ gỗ mịn, vân khá đẹp; ngoài ra gỗ loài này còn có khối lượng riêng lớn, nhiệt lượng cao, hiệu suất bột giấy và chiều dài sợi gỗ lớn, tính chất cơ lý đáp ứng được yêu cầu về gỗ xẻ (Research Institute of Wood Industry, 2006). Bạch đàn pellita là loài có hiệu suất bột giấy khá cao (50%) tương đương với Bạch đàn uro, Bạch đàn grandis và chất lượng bột giấy tốt (Clark và Hicks, 1996). Đồng thời Bạch đàn pellita cũng rất ưa chuộng làm gỗ nhiên liệu đốt trong lò hơi sản xuất điện cũng như sản xuất viên nén năng lượng phục vụ đời sống hàng ngày do gỗ có giá trị nhiệt lượng cao (William S.
Dvorak và cộng sự, 2011). Tổng quan ngoài nước 1. Nghiên cứu về lai giống và sử dụng giống lai trong trồng rừng Trong trồng rừng kinh tế, giống lai được sử dụng khá rộng rãi đặc biệt là ở rừng trồng các loài cây mọc nhanh như keo, bạch đàn. Giống lai là giống chủ đạo trong trồng rừng bạch đàn ở nhiều nước trên thế giới, như giống lai giữa giữa Bạch đàn urô và Bạch đàn grandis (Eucalyptus urophylla x Eucalyptus grandis) ở Brazil, Nam Phi và Trung Quốc hay giống lai giữa Bạch đàn caman với Bạch đàn deglupta (Eucalyptus camaldulensis x Eucalyptus deglupta) ở Thái Lan (Brooker và Kleinig, 2012).
Lai giống giữa các loài bạch đàn là chọn lọc các cá thể lai tốt nhất để nhân giống vô tính vào sản xuất là hướng đi chính trong các chương trình nghiên cứu cải thiện giống bạch đàn ở hầu hết các nước trên thế giới (Turnbull, 1999; Goncalves, 2011). Thông qua nghiên cứu lai giống, chọn lọc cá thể lai và nhân giống vô tính đã nâng năng suất rừng trồng bạch đàn ở các nước này lên rõ rệt, ở Brazil năng suất rừng trồng bạch đàn, chủ yếu là giống lai giữa Bạch đàn urô với Bạch đàn grandis đã đạt đến trung bình 40-50m3/ha/năm ở quy mô rừng trồng công nghiệp và khoảng 25-30m3/ha/năm ở Trung Quốc. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Các nghiên cứu cho thấy, Bạch đàn pellita có khả năng lai giống với các loài Bạch đàn khác như Bạch đàn brassiana, Bạch đàn urô và Bạch đàn caman tạo ra các giống lai có ưu thế lai rất tốt về sinh trưởng, đồng thời có tính chất gỗ tốt và có khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện hạn hán tốt (Harwood, 1998). Công ty PICOP của Philippines đã khảo nghiệm một số tổ hợp lai E.
Kết quả khảo nghiệm sau 4 năm thu được chiều cao trung bình tổ hợp lai E. urophylla đạt 20m, gia đình tốt nhất của E. urophylla đạt 17m, trong khi đó xuất xứ tốt nhất từ Queensland của Bạch đàn pellita là 15m (Siarot, 1986 - dẫn theo Harwood, 1998). Chương trình cải thiện giống cho Bạch đàn pellita dựa trên phép lai thuận nghịch cũng được thực hiện và cho thấy sinh trưởng của các cá thể tốt nhất của các tổ hợp lai xa khác loài đã vượt trội các xuất xứ tốt của các loài bố mẹ (Harwood, 1998).
Kết quả nghiên cứu của Mulawarman và cộng sự tại Indonesia cho thấy giống lai giữa Bạch đàn urô và Bạch đàn grandis với Bạch đàn pellita có sinh trưởng nhanh hơn so với các loài bố mẹ, vượt từ 20-25%. Giống lai này còn được kỳ vọng có thể tăng khối lượng riêng của gỗ từ 10- 15% so với rừng trồng Bạch đàn urô, qua đó nâng cao sản lượng bột giấy (Mulawarman và cộng sự, 2008). Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho trồng rừng Bạch đàn 1. Chế độ bón phân Áp dụng chế độ bón phân thích hợp có thể nâng cao sản lượng gỗ từ 5- 90%, phụ thuộc vào loại và nồng độ chất dinh dưỡng, tuổi đứng của cây và điều kiện tưới tiêu.
Để nâng cao năng suất rừng trồng, rừng cần được trồng với giống tốt, trong điều kiện lập địa phù hợp và được bón phân, tưới nước với liều lượng thích hợp (dẫn theo Eduardo Aparecido Sereguin Cabral de Melo, 2016). PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Khảo nghiệm các gia đình bạch đàn lai E. urophylla tại Yogyakarta, Indonesia vào tháng 12/1999 đã thiết lập 2 chế độ dinh dưỡng không bón phân và bón phân với 100 kg N, 50 kg P2O5 và 50 kg K2O cho mỗi hecta trên hai lập địa (S1-không bón phân và S2-bón phân). Thí nghiệm được bố trí theo hàng – cột với 6 lần lặp/1 địa điểm, 48 gia đình được bố trí ngẫu nhiên trong 6 lần lặp, hai cây trong cùng một gia đình được trồng theo hàng dọc với khoảng cách là 3m x 3m.
Kết quả điều tra sau 66 tháng cho thấy, ở lập địa bón phân (S2) cho sinh trưởng trung bình về đường kính đạt 13,4cm và chiều cao đạt tới 18,4m trong khi ở lập địa không bón phân (S1) đường kính chỉ đạt 11,8 cm và chiều cao là 16,9m (Mulawarman và cộng sự, 2008). Andersson Patrik khuyến cáo đối với rừng trồng Bạch đàn urô (E. urophylla) tại miền Nam Trung Quốc cần bón ít nhất 150kg Nito, 115kg phốt pho và 115kg Kali trên 1ha/1 năm, để đạt sản lượng cao nhất. Kết quả có sự khác biệt khi bón phân 1 lần/năm và 2 lần/năm đối với hỗn hợp này, trong đó tăng trưởng đạt cao nhất khi áp dụng bón phân 2 lần/năm với năng suất đạt 34,4 m3/ha/năm (Andersson, 2007).