Đặt vấn đề Ngày nay, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế thế giới. Trong đó nghề trồng cây ăn quả đã mang lại giá trị kinh tế to lớn, nhiều nước đã giàu lên nhờ phát triển cây ăn quả. Và cây ăn quả có múi trở thành loại quả quan trọng, có sản lượng cao nhất trong các loài cây ăn quản trên thế giới (theo FAO). Với nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Á cây có múi (thuộc họ Rutaceae, bộ Citrera) đã và đang được phát triển rộng rãi trên thế giới.
Cây ăn quả có múi mang lại giá trị dinh dưỡng cao nên nó là loại quả được nhiều người ưa chuộng. Trong thành phần thịt quả có chứa 6 - 12% đường (chủ yếu là đường Saccaroza), hàm lượng vitamin C có từ 40 - 90 mg/100g quả tươi và các axit hữu cơ từ 0,4 - 1,2% trong đó có nhiều chất có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm (Hoàng Ngọc Thuận 2005). Vì cây ăn quả có múi mang lại giá trị dinh dưỡng cao nên được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như dùng đểăn, vắt lấy nước uống, chế biến thức ăn, làm mứt, chế biến nước giải khát, ….và trong công nghiệp người ta sử dụng vỏ và hạt của cây có múi để tách chiết tinh dầu, bã tép để sản xuất pectin có tác dụng tốt trong việc chữa các bệnh về tim mạch, đường ruột cũng như chống ung thư. Việt Nam với khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới nên trồng cây ăn quả có múi vốn có từ lâu đời.
Đặc biệt trong những năm gần đây do hiệu quả kinh tế cao hơn các cây khác nên diện tích cây có múi tăng nhanh. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản lượng cây có múi phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu, người dân đã thâm canh để tăng diện tích. Chính điều này cũng tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển mạnh mẽ và có diễn biến phức tạp. Thành phần sâu bệnh hại ghi nhận được trên cây có múi (nói chung) cây quýt ngọt (nói riêng) rất phong phú và đa dạng.
Theo Phạm Văn Lầm, 2005 có 169 loài sâu hại thuộc 45 họ, 9 bộ côn trùng và nhện nhỏ gây hại trên cây có múi. Trong số các loài gây hại trên cam quýt thì sâu vẽ bùa là loài nguy hiểm nhất. Sâu vẽ bùa có mặt trên n 2 cây có múi quanh năm và gây hại trên các đợt lộc và là đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất là vào thời kỳ cây còn non sau trồng, trong giai đoạn kiến thiết cơ bản. Để bảo vệ năng suất và làm giảm thiệt hại do sâu bệnh vẽ bùa gây ra người dân đã thường xuyên phun thuốc hóa học với liều lương và số lần tăng cao.
Tuy nhiên với sâu vẽ bùa việc phun thuốc hóa học có thể bị giảm do sâu ở trong lớp biểu bì lá. Sự lạm dụng thuốc trừ sâu không những không tiêu diệt được sâu vẽ bùa mà còn làm ảnh hưởng đến con người, môi trường và làm giảm nghiêm trọng số lượng thiên địch trên sâu vẽ bùa. Nhằm mục đích góp phần tìm hiểu đặc điểm nông học của cây quýt ngọt không hạt nhằm đưa ra những biện pháp kỹ thuật, canh tác mang lại hiệu quả tốt nhất cũng như tìm hiểu tìm hiểu về sâu vẽ bùa giúp tìm ra được biện pháp phòng, chống sâu vẽ bùa một cách có hiệu quả, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng và ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật phòng trừ sâu vẽ bùa cho giống quýt ngọt không hạt trong giai đoạn kiến thiết cơ bản tại Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Đánh giá khả năng sinh trưởng của giống quýt ngọt không hạt tại Thái Nguyên.
- Xác định được thuốc BVTV thích hợp trong phòng trừ sâu vẽ bùa cho giống quýt ngọt không hạt tại Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài. - Nghiên cứu thời gian sinh trưởng các đợt lộc và số lượng lộc của giống quýt ngọt không hạt. - Nghiên cứu đặc điểm hình thái của quýt ngọt không hạt thí nghiệm.
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của các đợt lộc. - Đánh giá ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sinh trưởng và của quýt ngọt. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Các kết quả nghiên cứu của đề tài là một tài liệu khoa học về đặc điểm nông sinh học, ảnh hưởng của một số loại thuốc BVTV đến khá năng sinh trưởng và phát triển của cây quýt ngọt không, làm cơ sở khoa học cho quá trình trồng và chăm sóc quýt không hạt tại huyện Đại Từ - Thái Nguyên.
Kết quả của đề tài đánh giá được khả năng thích nghi của giống quýt ngọt không hạt tại huyện Đại Từ. Những kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các chủ vườn, hộ gia đình, các nghiên cứu khoa học về vấn đề có liên quan đến đặc điểm nông sinh học, biện pháp kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cây quýt ngọt. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài góp phần xác định cơ sở khoa học cho việc mở rộng diện tích trồng quýt ngọt và sử dụng thuốc BVTV thích hợp trong việc phòng trừ sâu bệnh nhằm tăng khả năng sinh trưởng của cây trong gia đoạn kiến thiết cơ bản của giống quýt ngọt không hạt tại huyện Đại Từ - Thái Nguyên. Phạm vi nghiên cứu Đề tài được tiến hành tại vườn cây của một hộ gia định thuộc xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cở sở khoa học của đề tài Cây quýt ngọt không hạt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm , thời gian kiến thiết cơ bản thường là 2-3 năm. Tùy vào điều kiện sinh thái của nơi trồng mà mỗi năm cây quýt ngọt thường ra 4-5 đợt lộc (xuân, hè, thu, đông). Quýt ngọt là giống mới được trồng tại địa phương nên việc đánh giá khả năng sinh trưởng của giống là điều rất cần thiết trước khi nhân rộng diện tích trồng.
Việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ sâu bệnh cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng của lộc cũng như tỷ lệ sâu bệnh hại trên cây. Nhằm xác định loại thuốc BVTV phù hợp cho việc phòng trừ sâu bệnh quýt ngọt nên cần khảo nghiệm đánh giá để rút ra được một kết luận cụ thể. Nguồn gốc của quý ngọt không hạt Theo Vũ Công Hậu (1996) [40], khó xác định được nguồn gốc cam quýt vì có rất nhiều chủng loại và đó là những cây trồng lâu năm có diện tích phân bố rộng. Cam quýt được đề cập đầu tiên trong văn học Trung Quốc năm 2200 trước công nguyên (Purdure University, 2005) [108].
Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam quýt có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Châu Á, vùng xuất xứ của giống thuộc chi Citrus bắt đầu từ Đông Ấn Độ kéo dài sang miền Nam của Trung Quốc, qua Nhật Bản xuống đến Châu Úc (Trần Thế Tục và ctv. Các giống quýt hàng hoá có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản hoặc Đông Nam Châu Á, riêng quýt Satsuma có nguồn gốc hoàn toàn ở Nhật Bản (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) [12]. Trần Thượng Tuấn và ctv. (1999) [38] cho rằng cây quýt ngotj không biết được trồng ở đồng bằng sông Cửu Long từ bao giờ và có phải nhập từ Thái Lan hay không, vì quýt ngọt trước đây còn được gọi là quýt Xiêm do trái lúc còn non ít chua nên người dân Chợ Lách chở cây giống đem bán gọi là quýt ngọt.
Ở Thái n 5 Lan, trái quýt giống như quýt ngọt của ta được ép bán nước quả tươi ở chợ rất phổ biến. Phân loại quýt. Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) [12] cho rằng quýt ngọt thuộc chi Citrus, nhóm nhỏ Eucitrus, họ Rutaceae và họ phụ Aurantioideae. Theo Mukhopadhyay (2004) [90], cam quýt trong tự nhiên bình thường có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 18, và quýt Citrus reticulata Blanco thuộc họ Rutaceae, họ phụ Aurantioideae, chi Citrus và có bộ nhiễm sắc thể 2n = 18.
Qua khảo sát so sánh số lượng nhiễm sắc thể của các loài cam, chanh của Việt Nam, Thiều Thị Tạo (1996) [27] cũng kết luận rằng nhóm cam quýt có 2n = 18. Một số sâu bệnh hại quýt và các biện pháp phòng trừ 2. Tình hình sâu bệnh hại quýt Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis) - Đặc điểm gây hại: Phá hoại ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3 - 4 năm đầu mới trồng. Trên cây tập trung phá hoại thời kỳ lộc non, nhất là lộc xuân.
Trưởng thành đẻ trứng vào búp lá non, sâu non nở ra ăn lớp biều bì lá, tạo thành đường ngoằn ngèo, có phủ sáp trắng, lá xoăn lại, cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm (mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 10). Rệp hại Chủ yếu hại trên các lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen. - Đặc điểm gây hại: + Rệp cam: Chủ yếu gây hại trên các cành non, lá non.
Lá bị xoăn, rộp lên. Rệp tiết ra chất nhờn (gọi là sương mật) hấp dẫn kiến và nấm muội đen. + Rệp sáp (Planococcus citri): Trên mình phủ 1 lớp bông hoặc sáp màu n 6 trắng, hình gậy, hình vảy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu. Những vườn cam hoặc cây cam ở gần ruộng mía thường hay bị từ mía lan sang.
Bệnh loét (Xanthomonas campestris) - Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại ở thời kì vườn ươm và cây mới trồng 1 - 3 năm, ở thời kỳ cây cho thu hoạch bệnh gây hại cả trên lá bánh tẻ, cành, quả non. Trên lá thấy xuất hiện các vết bệnh không định hình, mới mầu xanh vàng, sau chuyển thành màu nâu xung quanh có quầng vàng. Gặp điều kiện ẩm ướt gây thối rụng lá, gặp điều kiện khô gây khô giòn vết bệnh làm giảm quang hợp. Gây hại nặng trong điều kiện nóng, ẩm (vụ xuân hè).
Phòng trừ một số đối tượng sâu bệnh hại chính Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis) - Phòng trừ: Phun thuốc diệt sâu 1 - 2 lần cho mỗi đợt lộc non bằng: Decis 2,5EC 0,1 - 0,15%; Trebon 0,1 - 0,15%; Polytrin 50EC 0,1 - 0,2%. Rệp hại - Phòng trừ: Dùng Sherpa 25EC hoặc Trebon pha với nồng độ 0,1 - 0,2% phun 1 - 2 lần ở thời kì lá non. Khi xuất hiện rệp, muốn trị có hiệu quả cần pha thêm vào thuốc 1 ít xà phòng để có tác dụng phá lớp sáp phủ trên người rệp làm cho thuốc dễ thấm. Bệnh loét (Xanthomonas campestris) - Phòng trừ: + Tránh trồng cây con bị bệnh.