Đặt vấn đề Rau xanh là một loại thực phẩm đã được con người sử dụng rất lâu đời, hiện nay trong bữa ăn hàng ngày rau xanh không thể thiếu được. Khi cuộc sống được nâng cao thì nhu cầu về rau càng tăng cao và khắt khe hơn. Bên cạnh đó việc cho ra những sản phẩm nông sản có chất lượng tốt, màu sắc quả đẹp, hay không có sâu bệnh hại là một điều cần thiết và quan trọng. Là một trong những loại nông sản đa chức năng vừa làm thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày, vừa là thành phần trong các bài thuốc nam dân gian chữa trị nhiều bệnh như mướp đắng là rất hợp lí để đưa vào nghiên cứu.
Mướp đắng hay còn được biết đến với cái tên là khổ qua (Momordica charantia L.), thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), là loại rau phổ biến ở Châu Á và Việt Nam. Mướp đắng là loại rau chứa nhiều chất có lợi cho sức khỏe và hàm lượng dinh dưỡng cao như sắt, canxi, vitamin A, B, C, protein và khoáng chất. Theo số liệu của trường Đại học Purdue (Mỹ) thành phần dinh dưỡng của mướp đắng có trong 100g quả tươi gồm có: nước 83-92g; protein 1,5-2g; lipit 0,2-1g; carbonhydrat 4-10,5g; chất xơ 0,8-1,7g; năng lượng 105-250KJ; Ca 2023mg; Fe 1,8-2mg; đặc biệt hàm lượng vitamin C rất cao 88-96mg. Trong mướp đắng còn có giá trị dược liệu.
Theo y học cổ truyển mướp đắng có tính hàn, vị đắng, có tác dụng thanh nhiệt giải thử, thanh tâm, sáng mắt, hỗ trợ các bệnh về tiêu đường. Theo y học hiện đại mướp đắng có tác dụng diệt vi khuẩn và virus, chống lại các tế bào ung thư, hỗ trợ đắc lực cho bệnh nhân ung thư đang chữa trị bằng tia xạ. Với giá trị dinh dưỡng và y học như vậy mướp đắng đang được các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và phát triển. Việc lựa chọn các giống mướp đắng phù hợp với các vùng miền và mùa vụ khác nhau luôn được chú trọng quan tâm.
Hầu hết người dân ở các vùng miền thường để giống các giống mướp đắng địa phương và chọn quả 1 giống theo kinh nghiệm. Do đó các giống mướp đắng cho năng suất, chất lượng quả thấp. Nên việc đưa mướp đắng vào nghiên cứu là cần thiết và có nhiều ý nghĩa quan trọng. Có thể tìm ra giống cho năng suất, chất lượng quả tốt, có sực kháng chịu sâu bệnh hại cao, có lợi cho người sản xuất nói chung và y học nói riêng.
Từ đó, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu về: “Đánh giá sinh trưởng phát triển của một số mẫu giống mướp đắng (Momordica charantia L.) vụ Xuân Hè 2021 tại Gia Lâm - Hà Nội.2 Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích - Để chọn được các mẫu giống mướp đắng có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, chống chịu sâu bệnh để làm vật liệu nghiên cứu cho các lần tiếp theo. - Lai tạo chọn các mẫu giống mướp đắng và tự thụ để làm vật liệu cho lần nghiên cứu tiếp theo.2 Yêu cầu - Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của 18 mẫu giống. - Đánh giá khả năng chống chịu một số sâu bệnh hại chính trên các mẫu giống mướp đắng. - Chọn các mẫu giống mướp đắng sinh trưởng và phát triển tốt để lai tạo và tự thụ làm vật liệu cho lần nghiên cứu tiếp theo.
2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây mướp đắng Mướp đắng không chỉ là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao mà còn là một dược liệu quý.1: Thành phần dinh dưỡng có trong 100g mướp đắng Thành phần dinh dưỡng Khối lượng TT Nước 83-92g 1 Protein 1,5-2g 2 Lipit 0,2-1g 3 Cacbonhydrat 4-10,5g 4 Chất xơ 0,8-1,7g 5 Năng lượng 105-250KJ 6 Ca 20-23mg 7 Fe 1,8-2mg 8 P 38-70mg 9 Vitamin 88-96mg 10 Complex B Một lượng nhỏ 11 Carotin 126mcg 12 Niaxin 0,5mg 13 Nguồn: Viện nghiên cứu y học Colombo 3 Trong nhiều thập niên vừa qua nhiều nhà khoa học trên thế giới đã phát hiện và chứng minh trong quả mướp đắng có nhiều loại hợp chất có nhiều tác dụng sinh học, nổi bật là tác dụng hạ đường huyết. Năm 1998, nhà khoa học người Mỹ đã tìm ra thành phần hoạt tính sinh học trong mướp đắng nguyên tố thanh lọc mỡ. Hiện nay quả mướp đắng được sử dụng như một loại rau cũng như được sử dụng như một loại dược liệu cho việc điều trị tiểu đường và tẩy giun. Theo tài liệu của Viện Đại học Purdue vê các loại rau quả Á Châu hội Nhập vào Mỹ (Willsetal 1984), thành phân dinh dưỡng tính bằng gam trong 100g mướp đắng như sau: Phần ăn được 84 g, nư6c 93,8 g, Protein 0,9, Vitamin A 0,04 mg, Vitamin B1 0,05, Vitamin B2 2 0,03, Niacin 0,4, Vitamin C 50, Chât béo 0,1, Cacbohydrate 0,2, Calcium 22 mg, Potassium 260 mg, Magnesium 16 mg, Sắt 0,9 mg.
Hạt mướp đắng chứa 32% dầu với các acid béo stearic, linoleic, oleic. Hạt cũng chứa nucleosid. Thành phân protein trong hạt dao động trong khoảng 16,9% đến 19,7% và protein trong cùi dao động từ 6,6% đến 9,5%. Thành phân protein có trong dung dịch chiết suất từ cùi 5,7% đến 10,3% và thành phần protein trong dung dịch chiết suất từ hạt dao động từ 19% đến 22%.
Trong khi cùi có một thành phần độ ẩm tương ứng xấp xỉ 94%, hạt có thành phần độ ẩm khác nhau phụ thuộc vào độ chín. Hiện tượng điện chuyển đã chỉ ra rằng, protein trong hạt của ba loại mướp đắng có một thành phần khá đơn giản với bốn dãy cơ bản ở khoảng 50, 48, 40 và 28 kDa. Những kết quả này chỉ ra rằng hạt chứa chủ yếu thành phần protein của mướp đắng và hạt cũng chứa nhiều protein hơn so với cùi. Quả mướp đắng có rất nhiều cách chế biến món ăn nhưng nhìn chung món xào là chính, song ngoài ra còn có thể hầm, nấu canh, ăn sống, muối dưa chua, dưa mặn hoặc sấy khô.
Khi đời sống ngày càng được cải thiện, mướp đắng đang dần được người tiêu dùng ưa thích bởi giá trị dinh dưỡng cũng như giá trị dược liệu của nó. 4 Thành phần protein trong mướp đắng có công năng miễm dịch cao, làm cho tế bào miễn dịch có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, do đó có thể coi thực phẩm có thể dùng để điều trị bệnh ung thư. Các nhà khoa học Mỹ còn cho rằng có thể chiết xuất từ trong mướp đắng ra được 3 loại protein tiêu diệt được virus gây bệnh AIDS. Trong đông y mướp đắng có giá trị lớn.
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy quả mướp đắng có vị đắng, tính lạnh, không độc, có tác dụng giải nhiệt, trừ phiền, thanh tâm sáng mắt, giảm đau. Sử dụng khổ qua thường xuyên cũng có tác dụng an thần, dễ ngủ.2 Nguồn gốc, phân loại và phân bố của cây mướp đắng 2.1 Nguồn gốc, phân loại Các nhà phân loại thực vật học cho rằng mướp đắng có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á. Ngoài ra mướp đắng còn bắt nguồn từ vùng Châu Phi và Châu Mỹ. Mướp đắng là loài rau phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước Châu Á như Ấn Độ, Philippin, Malaysia, Tháu Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Úc, Châu Phi, Tây Á, Mỹ Latinh và vùng Caribe.
Loài cây này đã được coi là đã thuần hóa ở Châu Á như ở Bắc Ấn Độ hoặc Nam Trung Quốc bởi vì những vùng giáp ranh người ta tìm thấy quần thể hoang dại hay quần thểtự nhiên của mướp đắng. Sau này mướp đắng được giới thiệu sang Tân thế giới (Nam Mỹ) thông qua việc buôn bán nô lệ và do sự phân tán hạt mướp đắng của các loài chim, sau đó phát triển rộng rãi trên khắp các lục địa. Ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ Braxin đến Đông Nam nước Mỹ mướp đắng cũng rất phát triển. Mướp đắng (Momordica charantia L.
Charantia Loài mướp đắng (Momordica Charantia L.) nhiễm sắc thể 2n = 22, được biết đến như một cây trồng đã được thuần hóa từ lâu.Jansen, 1993 thì loài này đang tồn tại hai quần thể hoang dại và trong trồng trọt. Dạng trồng trọt đã trở nên khá phong phú. Đây là dạng cây có hoa đơn tính cùng gốc (Monoecius) và là cây hàng năm. Theo nghiên cứu của B.
Jansen (1993) cho thấy hiện nay có 2 loại giống khác nhau của Momordica charantia thường được sử dụng đó là: • Dạng trồng trọt với kích thước quả lớn (Momordica charantia L.) có đường kính > 5cm, quả to, gai tù, màu xanh nhạt, ít đắng. Nhóm này chia thành 2 nhóm nhỏ hơn là: - Nhóm quả trung bình: màu trắng, dài 12,0 – 17,0 cm. - Nhóm quả dài: màu xanh hoặc trắng dài hơn 20,0 cm. • Dạng trồng trọt với kích thước quả nhỏ (Momordica charantia L.
Abbreviate Ser) có đường kính < 5cm, quả nhỏ, gai nhọn, màu xanh đậm, vị rẩt đắng. Nhóm này gồm 3 nhóm nhỏ hơn: - Nhóm quả ngắn: chiều dài 6,0 – 7,5 cm. - Nhóm quả trung bình: chiều dài quả 8,0 – 12,0 cm. - Nhóm quả dài: chiều dài quả 12,0 – 22,0 cm.
Ở Ấn Độ, theo nghiên cứu của R.D Chaudhary (1985) thì căn cứ vào sự khác biệt của quả, nơi trồng, thời vụ trồng người ta chia quần thể 6 mướp đắng trồng ở vùng Nam Ấn Độ thành 9 giống. Trong khi đó, vùng Bắc Ấn Độ lại chỉ có hai giống vào mùa mưa và mùa khô.Keraudren công bố ở Campuchia, Lào và Việt Nam chỉ có 4 loại mướp đắng. Theo Phạm Hoàng Hộ (1991) Momordica ở Việt Nam có 3 loài là: Momordica charantia L.; Momordica cochinchinensis (lour) Spreng, và Momordica subangulata Blumem. Điều đáng chú ý là các tác giả đều thống nhất cây mướp đắng trồng ở Việt Nam cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á phổ biến nhất là loài Momordica charantia L.
Theo nghiên cứu của Phạm Văn Thanh và các cộng sự (2001) cho thấy một trong những điểm quan trọng nhất để phân biệt mướp đắng với các loài khác cũng chỉ là lá bắc của mướp đắng dính ở phía gốc hoặc sát gốc cuống hoa, còn các loài khác thì ngược lại. Khi nghiên cứu về đặc tính nông sinh học của một số mẫu giống mướp đắng, Lê Thị Tình (2008) phân 5 mẫu nghiên cứu lấy ở 5 nơi khác nhau (1. Gia Lâm – Hà Nội; 2. Đà Lạt – Lâm Đồng; 3.
Văn Giang – Hưng Yên; 4. Thị Xã Cao Bằng – Cao Bằng; 5. Tân Phong – Phù Yên – Sơn La) thành 3 nhóm giống khác nhau là: - Nhóm giống thứ 1: quả to, dài màu trắng hoặc xanh nhạt, gai tù, vị đắng ít (mẫu số 1,2,3). - Nhóm giống thứ 2: quả dài, hơi cong, màu xanh, gai nhọn, vị đắng nhiều, thịt quả dày (mẫu số 4).