MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây ăn quả có vai trò quan trọng trong đời sống con người sản phẩm hoa quả là nguồn dinh dưỡng quý cho con người về chất khoáng, đặc biệt chứa nhiều vitamin A và vitamin C rất cần cho cơ thể. Cũng như trong nền kinh tế quốc dân cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Hiện nay cây ăn quả đã trở thành một trong những loại cây lá thế mạnh kinh tế ở Việt Nam.
Sản phẩm cây ăn quả ngoài cung cấp cho thị trường trong nước, đồng thời là nguồn xuất khẩu cho các nước trong khu vực cũng như một số thị trường lớn trên thế giới như Châu Âu. Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, sản phẩm cây ăn quả ở Việt Nam ngoài việc sử dụng ăn tươi, còn là nguyên liệu cho nhà máy chế biến. Trong những năm qua, nghề trồng cây ăn quả đã trở thành một bộ phận không thể thiếu đối với nền nông nghiệp, là cây góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng thu nhập. Do đó, cây ăn quả có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế Việt Nam.
Trong số các loại cây ăn quả đó là cây nhãn. Nhãn cùng họ với cây vải, chôm chôm. Là cây Á nhiệt đới và nhiệt đới. Nhãn được trồng ở Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam.
Nhãn là cây ăn trái được phát triển mạnh trong những năm gần đây do hiệu quả kinh tế cao. Nhãn chứa nhiều dinh dưỡng, có thể ăn tươi, sấy khô hay đóng hộp. Ở Việt Nam cây ăn quả nói chung và cây nhãn nói riêng đều ra hoa theo mùa nên thời điểm thu hoạch quả tập trung, giá rất rẻ. Xuất phát từ thực tế trên nên hiện nay các giống nhãn muộn được nhiều người quan tâm, trong đó có giống nhãn muộn T6 là giống nhãn quý có nguồn gốc tại Hưng Yên.
Đây là một trong những giống nhãn được đánh giá có năng suất và chất lượng hàng đầu Luan van 2 phía Bắc: kích thước quả to, cùi dày, giòn, mọng nước, lượng đường cao, chống chịu sâu bệnh tốt, có khả năng thích nghi rộng. Trước thực tế đó, mô hình trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã trồng một số loại cây ăn quả, trong đó có giống nhãn muộn T6. Các loại cây trong mô hình được áp dụng kỹ thuật vào sản xuất, tuy nhiên năng suất và chất lượng quả chưa thực sự cao. Xuất phát từ lý do trên, nên em thực hiện đề tài “Đánh giá tình hình sản xuất giống nhãn T6 tại mô hình khoa Nông học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên’’ thật sự cần thiết để đánh giá đúng thực trạng, hiệu quả của việc sản xuất giống nhãn T6 đồng thời thấy được những tồn tại trong sản xuất từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển giống nhãn T6 đạt hiệu quả cao.
Mục tiêu - Đánh giá được hiện trạng sản xuất tại mô hình khoa Nông học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên. - Đánh giá được kết quả, thuận lợi, khó khăn trong áp dụng kỹ thuật sản xuất giống nhãn T6 tại mô hình. - Tìm ra bài học kinh nghiệm trong nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của quả, trên cơ sở này có thể xác định được các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh sự sinh trưởng, phát triển của quả nhãn theo hướng mong muốn. - Khẳng định được tầm quan trọng của các khâu kỹ thuật trong sản xuất cây nhãn nói riêng và cây ăn quả nói chung. - Kết quả của đề tài là cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo, góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất nhãn. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả đánh giá tình hình sản xuất của giống nhãn muộn T6 sẽ góp phần vào việc bố trí cơ cấu giống cây trồng tại mô hình.
- Bổ sung quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây nhãn. Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Nguồn gốc của cây nhãn Theo De Candolle nguồn gốc cây nhãn ở Ấn Độ, vùng có khí hậu lục địa.
Vùng Tây Ghats ở độ cao 1600m còn có rừng nhãn dại. Ở các bang Bengai và Assam ở độ cao 1000m trồng nhiều nhãn. Trên thế giới Trung Quốc là nước có diện tích trồng nhãn lớn nhất và có sản lượng cao nhất. Theo Lô Mỹ Anh, Khoa Viên nghệ trường Đại học Nông nghiệp Quảng Tây thì diện tích trồng nhãn ở Trung Quốc đạt 38 – 40 vạn mẫu (15 vạn mẫu Trung Quốc bằng 1 ha) chủ yếu ở các tỉnh duyên hải vùng Đông Nam: Phúc Kiến, Đài Loan, Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên.
Ngoài ra còn trồng lẻ tẻ ở Vân Nam và Quý Châu. Riêng Phúc Kiến năm 1977 diện tích trồng nhãn trên 11.300 ha và sản lượng năm cao nhất (1995) đạt 50. Nhãn còn được trồng ở Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Philipin. Sau thế kỷ 19, nhãn được nhập và trồng ở các nước Âu Mỹ, Châu Phi, Oxtraylia trong vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới.
Thái Lan bắt đầu trồng nhãn từ năm 1896, giống nhập của Trung Quốc. Sản lượng nhãn của Thái Lan năm 1990 đạt 123.000 tấn, chủ yếu trồng ở miền Bắc, Đông Bắc và vùng đồng bằng miền Trung, nổi tiếng nhất là các huyện Chiong Mai, Lam Phun và Prae. Ngoài tiêu thụ trong nước, Thái Lan còn xuất khẩu cho Malaysia, Singapo, Hồng Kông, Philippin và các nước EC. Chỉ riêng xuất khẩu nhãn trong 3 năm qua Thái Lan đã tăng gấp 3 lần doanh thu xuất khẩu những hoa quả khác.
Ở Việt Nam nhãn được trồng từ bao giờ chưa được nghiên cứu xác định. Cây nhãn được trồng lâu nhất ở chùa Phố Hiến thuộc xã Hồng Châu thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên cách đây chừng 300 năm. Luan van 5 Hiện nay cây nhãn được trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ: Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang. Nhãn còn được trồng ở vùng đất phù sa ven sông Hồng, sông Thao, sông Lô, sông Mã, sông Tiến, sông Hậu và vùng gò đồi ở các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Bắc Cạn, Thái Nguyên.
và lẻ tẻ ở các tỉnh miền Trung. Trong những năm gần đây, do cơ chế của thị trường và nhu cầu quả tươi tại chỗ, các tỉnh phía Nam đang phát triền mạnh cây nhãn: Cao Lãnh (Đồng Tháp), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), cù lao An Bình, Đồng Phú (Vĩnh Long). đặc biệt ở Tiền Giang diện tích nhãn tăng rất nhanh. Nguồn gốc của cây nhãn cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng thực tế hiện nay, phần đông các nhà khoa học đều cho rằng cây nhãn có nguồn gốc từ Ấn Độ sau đó được đem đi trồng ở các nước khác.
Phân loại cây nhãn Nhãn được chia thành 2 phân loài: - Nhãn phân loài longan - Nhãn phân loài malesianus Ngày nay nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ đã lai tạo ra nhiều loại nhãn mới cho năng suất và chất lượng tốt, nhưng ở nước ta vẫn chủ yếu trồng 9 loại nhãn sau: - Nhãn lồng: Quả tròn, to gần như quả vải thiều. Trọng lượng quả trung bình 12 - 17g, cùi dày vân hanh vàng, các múi lồng vào nhau rất rõ, trên mặt cùi nhãn có nhiều đường gân nổi xếp chằng chịt có cái như vảy rồng. Hạt màu đen, trọng lượng khoảng 2g. Quả ăn giòn và ngọt, thơm mát.
Vỏ quả dày, giòn dễ tách, chín sớm. Phần ăn được chiếm 63,25% trọng lượng quả. - Nhãn cùi: Quả hình cầu hơi dẹt, vỏ không sáng mã mầu vàng nâu. Quả to, trọng lượng trung bình 10 - 15g.
Cùi dày thường khô (ráo nước), màu cùi trong hoặc hơi đục. Trọng lượng hạt khoảng 2g, màu đen. Phần Luan van 6 ăn được chiếm khoảng 60% trọng lượng quả. - Nhãn bàm bàm: Quả to gần bằng quả nhãn lồng.
Trọng lượng trung bình của quả 12 - 15g. Trôn quả hơi vẹo, vai quả gồ ghề, cùi dày, khô, ăn có vị ngọt nhạt. - Nhãn đường phèn: Quả nhỏ hơn nhãn lồng. Trọng lượng trung bình 7 - 12g.
Vỏ màu nâu nhạt, cùi tương đối dày, đậm nước, bóc vỏ trên mặt cùi quả có các u nhỏ như cục đường phèn. Ăn ngọt sắc thơm đặc biệt. Hạt bé, đen nhánh, trung bình nặng 1,5g. Nhãn đường phèn ra hoa muộn hơn nhãn cùi.
Chín chậm hơn nhãn cùi 10 - 15 ngày. Phần ăn được chiếm 60,24% trọng lượng quả. - Nhãn nước: Cây thường sai quả, quả nhỏ, trọng lượng trung bình 6 - 9g. Cùi mỏng, nhão, nhiều nước, độ ngọt vừa phải, cùi khó dóc khỏi hạt.
Chùm có nhiều quả, năng suất tương đối ổn định, về chất lượng ăn tươi kém nhãn cùi. Phần ăn được chiếm 38,63% trọng lượng quả. - Nhãn thóc: Quả nhỏ, trên chùm nhiều quả. Trọng lượng trung bình 5 - 7g, cùi mỏng khó tách khỏi hạt, nhiều nước, hạt to, độ ngọt vừa phải.
- Nhãn Vĩnh Châu: Giống này trồng nhiều ở huyện Vĩnh Châu (tỉnh Sóc Trăng) trên vùng đất ven biển bị nhiễm mặn. Cây mọc khỏe, lá to, biên lá gợn sóng. Quả có màu nâu xanh, nhẵn. Hạt tương đối to, nhiều nước, cùi mỏng, ngọt, khó tách với hạt.
Giống này tuy ăn không ngon bằng nhãn cùi hay nhãn đường phèn ở miền Bắc, song có ưu điểm thích nghi với đất xấu, có ảnh hưởng mặn. - Nhãn tiêu: Giống nhập nội từ Thái Lan vào miền Nam trong những năm gần đây. Vỏ quả vàng nhạt, lấm tấm điểm những chấm sẫm. Quả chỉ to bằng nhãn thóc ở miền Bắc, không có hạt hay có hạt lép như hạt tiêu, đen nhánh.
Khi chín cùi dày giòn thơm. Do phẩm chất và hương vị của quả có nhiều ưu điểm nên rất được ưa chuộng trên thị trường. Luan van 7 - Nhãn long hạt: Giống nhập nội từ Thái Lan. Quả to gần bằng quả vải thiều.
Vỏ quả màu vàng, mỏng, mềm, phẩm chất quả gần giống nhãn tiêu. Sự phân bố của cây nhãn Hiện nay cây nhãn được trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ: Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang. Nhãn còn được trồng ở vùng đất phù sa ven sông Hồng, sông Thao, sông Lô, sông Mã, sông Tiến, sông Hậu và vùng gò đồi ở các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Bắc Cạn, Thái Nguyên. và lẻ tẻ ở các tỉnh miền Trung.
Trong những năm gần đây, do cơ chế của thị trường và nhu cầu quả tươi tại chỗ, các tỉnh phía Nam đang phát triển mạnh cây nhãn: Cao Lãnh (Đồng Tháp), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), cù lao An Bình, Đồng Phú (Vĩnh Long),. đặc biệt ở Tiền Giang diện tích nhãn tăng rất nhanh.