Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá mức độ rủi ro tới môi trường nước mặt do ảnh hưởng của chất thải nhựa từ các chợ ven sông tại khu vực duyên hải tỉnh trà vinh

Luận văn thạc sĩ môi trường nghiên cứu quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá mức độ rủi ro tới môi trường nước mặt do ảnh hưởng của, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2024

109
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tình trạng ô nhiễm nước mặt tại Trà Vinh

Ô nhiễm nước mặt do chất thải nhựa là một vấn đề nghiêm trọng tại Trà Vinh, đặc biệt là ở các chợ ven sông. Các chợ truyền thống thường nằm gần các tuyến đường thủy, nơi mà chất thải nhựa từ hoạt động buôn bán hàng ngày được xả thải trực tiếp vào môi trường. Theo nghiên cứu, lượng chất thải nhựa trong các mẫu chất rắn tại các chợ dao động từ 23,3% đến 36,7%. Điều này cho thấy mức độ ô nhiễm nước mặt tại khu vực này đang ở mức báo động. Các loại nhựa phổ biến như PET, PP, và LDPE chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng chất thải nhựa phát sinh. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt mà còn gây ra các tác động tiêu cực đến sinh thái và sức khỏe con người.

1.1 Nguyên nhân ô nhiễm

Nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm nước mặt tại Trà Vinh là do sự thiếu hụt trong quản lý chất thải. Các chợ ven sông không có hệ thống thu gom và xử lý chất thải hiệu quả, dẫn đến việc chất thải nhựa bị xả thải trực tiếp ra môi trường. Hơn nữa, thói quen tiêu dùng và ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn hạn chế, khiến cho lượng chất thải nhựa ngày càng gia tăng. Các hóa chất độc hại từ chất thải nhựa như Bisphenol A (BPA) có thể rò rỉ vào nước mặt, gây ra các rủi ro về sức khỏe cho cộng đồng và sinh vật thủy sinh.

II. Đánh giá rủi ro môi trường

Đánh giá rủi ro môi trường từ chất thải nhựa là một phần quan trọng trong nghiên cứu này. Nghiên cứu đã tiến hành phân tích nồng độ BPA trong nước mặt và trầm tích tại các khu vực chợ ven sông. Kết quả cho thấy nồng độ BPA cao nhất tại các vị trí gần chợ, với chỉ số rủi ro (RQ) lớn hơn 1, cho thấy nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Việc tồn tại lâu dài của chất thải nhựa trong môi trường nước có thể dẫn đến sự tích tụ của các độc chất, ảnh hưởng đến sinh vật thủy sinh và sức khỏe con người. Đánh giá này không chỉ giúp nhận diện các nguy cơ mà còn cung cấp cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp bảo vệ môi trường hiệu quả.

2.1 Phân tích nồng độ BPA

Nồng độ BPA trong nước mặt và trầm tích được phân tích từ các mẫu thu thập tại 5 chợ có lượng chất thải nhựa cao nhất. Kết quả cho thấy nồng độ BPA vượt mức an toàn, điều này cho thấy sự rò rỉ của các hóa chất độc hại từ chất thải nhựa vào môi trường. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt mà còn có thể gây ra các tác động lâu dài đến sức khỏe của cộng đồng và hệ sinh thái. Cần có các biện pháp khẩn cấp để giảm thiểu tình trạng này.

III. Giải pháp quản lý và giảm thiểu ô nhiễm

Để giảm thiểu ô nhiễm nước mặt do chất thải nhựa, cần có các giải pháp quản lý hiệu quả. Đầu tiên, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tác hại của chất thải nhựa và khuyến khích việc sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Thứ hai, cần thiết lập hệ thống thu gom và xử lý chất thải tại các chợ ven sông để ngăn chặn việc xả thải trực tiếp ra môi trường. Cuối cùng, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, nhằm đảm bảo chất lượng nước mặt và sức khỏe cộng đồng.

3.1 Đề xuất biện pháp cụ thể

Các biện pháp cụ thể bao gồm việc xây dựng các bãi rác tập trung gần các chợ ven sông, đồng thời triển khai các chương trình tái chế chất thải nhựa. Cần có các chính sách khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, như tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn về quản lý chất thải. Ngoài ra, việc áp dụng công nghệ mới trong xử lý chất thải nhựa cũng cần được xem xét để nâng cao hiệu quả quản lý chất thải tại khu vực này.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá mức độ rủi ro tới môi trường nước mặt do ảnh hưởng của chất thải nhựa từ các chợ ven sông tại khu vực duyên hải tỉnh trà vinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ô nhiễm nhựa đang là một trong những vấn đề lớn nhất mà các quốc gia phải đối mặt, ước tính có khoảng 165 triệu tấn chất thải nhựa trong các đại dương trên thế giới vào năm 2012 [1], trong đó có khoảng 5.000 tỷ mảnh nhựa trôi nổi trên đại dương [2]. Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), lượng nhựa sử dụng, bao gồm sợi và phụ gia, đạt 460 triệu tấn vào năm 2019 và 61% trong số đó là PET, HDPE, LDPE, PVC, PP, PS. Hơn nữa, chất thải nhựa toàn cầu ước tính khoảng 353 triệu tấn vào năm 2019 và nó có mối quan hệ đáng kể với tuổi thọ của các sản phẩm nhựa [3].

Trong khi tuổi thọ trung bình của các sản phẩm nhựa là khoảng 10 năm thì việc sử dụng nhựa để đóng gói lại có tuổi thọ rất ngắn, khoảng 0,5 năm. Kết quả là chất thải bao bì nhựa chiếm khoảng 42% lượng chất thải nhựa trên thế giới [4]. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) vào năm 2018, Việt Nam là một trong những quốc gia có lượng chất thải nhựa xả ra biển nhiều nhất trên thế giới, với khối lượng chất thải nhựa ra biển dao động trong khoảng 0,28 - 0,73 triệu tấn/năm, tương đương 6% tổng lượng chất thải nhựa ra biển và đứng thứ 4 trên 20 quốc gia cao nhất [5]. Bên cạnh đó, OECD ước tính rằng 22% chất thải nhựa toàn cầu “được quản lý sai và xả rác” vào năm 2019, và ở các nước không thuộc OECD, như Việt Nam, có hơn 37% chất thải nhựa có thể thải trực tiếp ra môi trường [3].

Các nguồn phát sinh chất thải nhựa chủ yếu từ đất liền và các hoạt động trên biển. Ước tính chất thải từ đất liền (hoạt động sản xuất, sinh hoạt như ăn uống, mua sắm, hoạt động chợ truyền thống,…) chiếm khoảng 80% và hoạt động trên biển (nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản; du lịch,…) chiếm 20% [6]. Đối với nguồn phát sinh từ đất liền, các con sông là một trong các nguồn chính dẫn chất thải nhựa vào đại dương. Năm 2017, ước tính rằng có khoảng từ 1,15 đến 2,41 triệu tấn chất thải nhựa đang đổ vào đại dương mỗi năm từ các con sông, chủ yếu là các con sông ở châu Á, lượng chất thải nhựa phát sinh chiếm khoảng 67% tổng số toàn cầu [2].

Chợ truyền thống là nơi trao đổi hàng hóa tiêu dùng hàng ngày của người dân từ xưa đến nay, đặc biệt là khu vực Châu Á. Chất thải rắn từ các chợ truyền thống chiếm một lượng lớn thứ hai sau chất thải sinh hoạt. Tại Indonesia, lượng chất thải HVTH: Trần Thanh Thảo Trang 1 GVHD: PGS. Lê Văn Khoa – TS.

Trần Tuấn Việt Luận văn cao học nhựa phát sinh từ chất thải rắn chợ chiếm trung bình 5,9% [7]. Tại Việt Nam hiện nay, chưa có nhiều thống kê về lượng chất thải phát sinh từ các khu vực chợ truyền thống cũng như lượng chất thải nhựa từ nguồn phát sinh này. Bên cạnh đó, việc chất thải nhựa phát sinh từ các khu chợ truyền thống rò rỉ vào các kênh, sông ven chợ vẫn chưa có nhiều nghiên cứu. Các tác hại từ chất thải nhựa vào môi trường nước mặt như kênh, sông có thể được xét trong 05 khía cạnh: nuốt phải, sự vướng vào chất thải nhựa, rò rỉ chất độc hại và tích tụ chất độc, sự cố trong vi nhựa và sinh kế của con người [8].

Trong đó, việc rò rỉ độc chất và tích tụ chất độc của chất thải nhựa vào kênh, sông ra biển sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nước nước, sinh vật, con người và hệ sinh thái. Do đó, việc đánh giá rủi ro độc tính của chất thải nhựa sẽ xác định và dự báo các rủi ro tác động đến môi trường nước mặt của chất thải nhựa tại các khu vực kênh, sông trước khi dẫn ra và tích tụ ở đại dương. Trong khi tuổi thọ trung bình của các sản phẩm nhựa là khoảng 10 năm thì việc sử dụng vật liệu nhựa trong bao bì đóng gói lại có tuổi thọ rất ngắn, khoảng 0,5 năm. Kết quả là chất thải bao bì nhựa chiếm khoảng 42% lượng chất thải nhựa trên thế giới [4].

Trong quá trình phân hủy, các hóa chất độc hại như Bisphenol (BPA, BPS, BPF, BPB, BPP, BPZ, BPAF, BPAP), Phthalate, Polystyrene, Hydrocacbon thơm đa vòng (PAHs), chất chống cháy Brom hóa (tetrabromobisphenol A (TBBPA) và ete polybrominateddiphenyl (PBDE)), Polychlorinated biphenyls (PCB) … có thể giải phóng vào nước1 [9]. Trong các hợp chất hợp chất phụ gia phổ biến được sử dụng rộng rãi trong ngành nhựa là phụ gia BPA được sử dụng trong sản phẩm nhựa để cải thiện gia tăng tính bền và hạn chế tính oxy hóa của sản phẩm nhựa khi tiếp xúc với tia cực tím [10]. Năm 2013, mức tiêu thụ của BPA khoảng 5 triệu tấn trên toàn thế giới [11]. Trong ngành nhựa, mỗi năm trên thế giới có khoảng 27 triệu loại nhựa chứa BPA được sản xuất 1 Chi tiết tại phụ lục 2.

HVTH: Trần Thanh Thảo Trang 2 GVHD: PGS. Lê Văn Khoa – TS. Trần Tuấn Việt Luận văn cao học [11]. Có nhiều nghiên cứu trước đây đều cho thấy BPA có thể thải ra môi trường từ sản phẩm nhựa [14], [15].

BPA cũng được phát hiện trong hệ sinh thái dưới nước ở nồng độ vết (ng/L đến μg/L) từ các nguồn như nước thải, rò rỉ của các sản phẩm chứa BPA, điển hình từ các loại chất thải nhựa [16]. Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng nồng độ BPA được tích tụ trong môi trường trầm tích, môi trường nước mặt, nước ăn uống từ các sản phẩm nhựa [13], [17], [18], [19], [20], [21], [22]. BPA được báo cáo là chất độc ở mức độ trung bình thấp đối với sinh vật dưới nước với giá trị NOEC (Không quan sát được nồng độ tác động) hoặc EC10 (Nồng độ gây ra 10% tác động độc hại trong thử nghiệm) nằm trong khoảng từ 0,015 đến 7. BPA được xác định là hợp chất gây rối loạn nội tiết, ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của các các loài sinh vật trong môi trường tiếp xúc, đặc biệt là môi trường sinh thái trong nước [24].

Nồng độ BPA có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người ở nồng độ nanomol. Một số tác động tiêu cực đến sức khỏe liên quan đến nồng độ BPA đã được báo cáo như tăng sinh tế bào, tổn thương DNA, tích tụ lipid, giải phóng insulin, … [25]. Trà Vinh là một tỉnh ven biển của Việt Nam nằm ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi nổi tiếng về các khu chợ ven sông. Nhiều loại hàng hóa bao gồm thực phẩm ăn liền và tươi sống, đồ gia dụng, trái cây, quần áo, v.

được bán ở các khu chợ này. Do đó, cả người bán và khách hàng đều có thể tạo ra nhiều loại lãng phí khác nhau như bao bì đóng gói, lon, thực phẩm thừa hoặc hư hỏng, cũng như chai đựng chất lỏng. Một số được bỏ vào đúng thùng rác, một số di cư ra môi trường xung quanh bao gồm cả các tuyến đường thủy liền kề. Trong giai đoạn 2016-2020, lượng chất thải rắn tại Trà Vinh đã tăng từ 299,18 lên 428,84 tấn/ngày trong khi tỷ lệ thu gom dao động từ 63,46% đến 78,62% [26].

Trong khi đó, khoảng 88,3% và 49,1% chất thải rắn được thu gom tại Đồng bằng sông Cửu Long ở khu vực thành thị và nông thôn [5]. Hơn nữa, theo một nghiên cứu tại Trà Vinh vào năm 2021, mỗi ngày có khoảng 128 tấn chất thải rắn sinh hoạt thải ra môi trường, trong đó có khoảng 7 tấn là nhựa [27]. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng Trà Vinh đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong quản lý chất thải nhựa. Tuy nhiên, còn tồn tại khoảng cách về thực trạng chất HVTH: Trần Thanh Thảo Trang 3 GVHD: PGS.

Lê Văn Khoa – TS. Trần Tuấn Việt Luận văn cao học thải rắn và chất thải nhựa xung quanh các chợ ven sông ở ĐBSCL, trong đó có tỉnh Trà Vinh. Việc xác định thành phần vật lý của các chất thải rắn tại các chợ; phân loại chất thải nhựa; đánh giá nồng độ BPA trong môi trường nước và trầm tích tại khu vực ven kênh, sông giáp chợ; đồng thời phản ánh mức độ rủi ro sinh thái của nồng độ BPA từ chất thải nhựa trong môi trường nước và trầm tích là cần thiết. Khu vực nghiên cứu được lưa chọn là các chợ truyền thống, chợ nổi tiếp giáp với các khu vực kênh, sông tại khu vực Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Nhận thấy được các vấn đề trên, đề tài “Đánh giá mức độ rủi ro tới môi trường nước mặt do ảnh hưởng của chất thải nhựa từ các chợ ven sông tại khu vực Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh” là một nghiên cứu cần được thực hiện. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cần thiết cho sự xác định và đánh giá mức độ rủi ro độc tính thông qua nồng độ Bisphenol A từ các loại chất thải nhựa phát sinh ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt, trầm tích tại khu vực nghiên cứu. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý, giảm thiểu hiệu quả đối với hoạt động chợ truyền thống ven sông của khu vực Duyên Hải nói riêng và tỉnh Trà Vinh nói chung. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá rủi ro môi trường nước mặt của chất thải nhựa tại các chợ ven sông và đề xuất các giải pháp về quản lý, giảm thiểu chất thải nhựa tại khu vực Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Điều tra, khảo sát và xác định thành phần chất thải nhựa tại các chợ ven sông khu vực Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. - Thu thập thông tin và xác định số lượng chợ ven sông tại huyện Duyên Hải và thị xã Duyên Hải; - Lấy mẫu và phân loại chất thải nhựa trong chất thải rắn trong chợ và khu vực ven kênh, sông giáp chợ; - Đánh giá hiện trạng ô nhiễm nhựa tại khu vực nghiên cứu. HVTH: Trần Thanh Thảo Trang 4 GVHD: PGS. Lê Văn Khoa – TS.

Trần Tuấn Việt Luận văn cao học Nội dung 2: Đánh giá mức độ rủi ro đến môi trường nước mặt do ô nhiễm chất thải nhựa tại các chợ ven sông khu vực nghiên cứu. - Lấy mẫu và phân tích nồng độ Bis-phenol A (BPA) trong môi trường nước mặt tại khu vực kênh, sông giáp chợ. - Đánh giá mức độ rủi ro độc tính của các loại nhựa thông qua nồng độ BPA trong môi trường nước mặt tại khu vực kênh, sông giáp chợ. Nội dung 3: Đề xuất biện pháp quản lý và giảm thiểu chất thải nhựa tại khu vực chợ ven sông.

- Đề xuất giải pháp cụ thể cho việc quản lý và giảm thiểu chất thải nhựa chung cho cả khu vực và riêng đối với khu vực chợ ven sông, ven biển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá rủi ro ô nhiễm nước mặt do chất thải nhựa từ chợ ven sông tại Trà Vinh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng ô nhiễm nước mặt do chất thải nhựa, đặc biệt là từ các chợ ven sông. Tác giả phân tích các nguồn gốc và tác động của ô nhiễm, đồng thời đưa ra các biện pháp khắc phục nhằm bảo vệ môi trường nước. Bài viết không chỉ giúp người đọc nhận thức rõ hơn về vấn đề ô nhiễm mà còn khuyến khích các hành động bảo vệ môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý chất thải và các giải pháp xử lý, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại thành phố hà nội", nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý chất thải rắn. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ kỹ thuật môi trường nghiên cứu xử lý nước thải giết mổ bằng công nghệ uasb kết hợp egsb sử dụng anammox và giá thể pva gel" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các công nghệ xử lý nước thải hiện đại. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở việt nam hiện nay" sẽ cung cấp thông tin về khung pháp lý liên quan đến quản lý chất thải rắn tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề ô nhiễm và quản lý chất thải.