MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ô nhiễm nhựa đang là một trong những vấn đề lớn nhất mà các quốc gia phải đối mặt, ước tính có khoảng 165 triệu tấn chất thải nhựa trong các đại dương trên thế giới vào năm 2012 [1], trong đó có khoảng 5.000 tỷ mảnh nhựa trôi nổi trên đại dương [2]. Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), lượng nhựa sử dụng, bao gồm sợi và phụ gia, đạt 460 triệu tấn vào năm 2019 và 61% trong số đó là PET, HDPE, LDPE, PVC, PP, PS. Hơn nữa, chất thải nhựa toàn cầu ước tính khoảng 353 triệu tấn vào năm 2019 và nó có mối quan hệ đáng kể với tuổi thọ của các sản phẩm nhựa [3].
Trong khi tuổi thọ trung bình của các sản phẩm nhựa là khoảng 10 năm thì việc sử dụng nhựa để đóng gói lại có tuổi thọ rất ngắn, khoảng 0,5 năm. Kết quả là chất thải bao bì nhựa chiếm khoảng 42% lượng chất thải nhựa trên thế giới [4]. Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) vào năm 2018, Việt Nam là một trong những quốc gia có lượng chất thải nhựa xả ra biển nhiều nhất trên thế giới, với khối lượng chất thải nhựa ra biển dao động trong khoảng 0,28 - 0,73 triệu tấn/năm, tương đương 6% tổng lượng chất thải nhựa ra biển và đứng thứ 4 trên 20 quốc gia cao nhất [5]. Bên cạnh đó, OECD ước tính rằng 22% chất thải nhựa toàn cầu “được quản lý sai và xả rác” vào năm 2019, và ở các nước không thuộc OECD, như Việt Nam, có hơn 37% chất thải nhựa có thể thải trực tiếp ra môi trường [3].
Các nguồn phát sinh chất thải nhựa chủ yếu từ đất liền và các hoạt động trên biển. Ước tính chất thải từ đất liền (hoạt động sản xuất, sinh hoạt như ăn uống, mua sắm, hoạt động chợ truyền thống,…) chiếm khoảng 80% và hoạt động trên biển (nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản; du lịch,…) chiếm 20% [6]. Đối với nguồn phát sinh từ đất liền, các con sông là một trong các nguồn chính dẫn chất thải nhựa vào đại dương. Năm 2017, ước tính rằng có khoảng từ 1,15 đến 2,41 triệu tấn chất thải nhựa đang đổ vào đại dương mỗi năm từ các con sông, chủ yếu là các con sông ở châu Á, lượng chất thải nhựa phát sinh chiếm khoảng 67% tổng số toàn cầu [2].
Chợ truyền thống là nơi trao đổi hàng hóa tiêu dùng hàng ngày của người dân từ xưa đến nay, đặc biệt là khu vực Châu Á. Chất thải rắn từ các chợ truyền thống chiếm một lượng lớn thứ hai sau chất thải sinh hoạt. Tại Indonesia, lượng chất thải HVTH: Trần Thanh Thảo Trang 1 GVHD: PGS. Lê Văn Khoa – TS.
Trần Tuấn Việt Luận văn cao học nhựa phát sinh từ chất thải rắn chợ chiếm trung bình 5,9% [7]. Tại Việt Nam hiện nay, chưa có nhiều thống kê về lượng chất thải phát sinh từ các khu vực chợ truyền thống cũng như lượng chất thải nhựa từ nguồn phát sinh này. Bên cạnh đó, việc chất thải nhựa phát sinh từ các khu chợ truyền thống rò rỉ vào các kênh, sông ven chợ vẫn chưa có nhiều nghiên cứu. Các tác hại từ chất thải nhựa vào môi trường nước mặt như kênh, sông có thể được xét trong 05 khía cạnh: nuốt phải, sự vướng vào chất thải nhựa, rò rỉ chất độc hại và tích tụ chất độc, sự cố trong vi nhựa và sinh kế của con người [8].
Trong đó, việc rò rỉ độc chất và tích tụ chất độc của chất thải nhựa vào kênh, sông ra biển sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nước nước, sinh vật, con người và hệ sinh thái. Do đó, việc đánh giá rủi ro độc tính của chất thải nhựa sẽ xác định và dự báo các rủi ro tác động đến môi trường nước mặt của chất thải nhựa tại các khu vực kênh, sông trước khi dẫn ra và tích tụ ở đại dương. Trong khi tuổi thọ trung bình của các sản phẩm nhựa là khoảng 10 năm thì việc sử dụng vật liệu nhựa trong bao bì đóng gói lại có tuổi thọ rất ngắn, khoảng 0,5 năm. Kết quả là chất thải bao bì nhựa chiếm khoảng 42% lượng chất thải nhựa trên thế giới [4].
Trong quá trình phân hủy, các hóa chất độc hại như Bisphenol (BPA, BPS, BPF, BPB, BPP, BPZ, BPAF, BPAP), Phthalate, Polystyrene, Hydrocacbon thơm đa vòng (PAHs), chất chống cháy Brom hóa (tetrabromobisphenol A (TBBPA) và ete polybrominateddiphenyl (PBDE)), Polychlorinated biphenyls (PCB) … có thể giải phóng vào nước1 [9]. Trong các hợp chất hợp chất phụ gia phổ biến được sử dụng rộng rãi trong ngành nhựa là phụ gia BPA được sử dụng trong sản phẩm nhựa để cải thiện gia tăng tính bền và hạn chế tính oxy hóa của sản phẩm nhựa khi tiếp xúc với tia cực tím [10]. Năm 2013, mức tiêu thụ của BPA khoảng 5 triệu tấn trên toàn thế giới [11]. Trong ngành nhựa, mỗi năm trên thế giới có khoảng 27 triệu loại nhựa chứa BPA được sản xuất 1 Chi tiết tại phụ lục 2.
HVTH: Trần Thanh Thảo Trang 2 GVHD: PGS. Lê Văn Khoa – TS. Trần Tuấn Việt Luận văn cao học [11]. Có nhiều nghiên cứu trước đây đều cho thấy BPA có thể thải ra môi trường từ sản phẩm nhựa [14], [15].
BPA cũng được phát hiện trong hệ sinh thái dưới nước ở nồng độ vết (ng/L đến μg/L) từ các nguồn như nước thải, rò rỉ của các sản phẩm chứa BPA, điển hình từ các loại chất thải nhựa [16]. Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng nồng độ BPA được tích tụ trong môi trường trầm tích, môi trường nước mặt, nước ăn uống từ các sản phẩm nhựa [13], [17], [18], [19], [20], [21], [22]. BPA được báo cáo là chất độc ở mức độ trung bình thấp đối với sinh vật dưới nước với giá trị NOEC (Không quan sát được nồng độ tác động) hoặc EC10 (Nồng độ gây ra 10% tác động độc hại trong thử nghiệm) nằm trong khoảng từ 0,015 đến 7. BPA được xác định là hợp chất gây rối loạn nội tiết, ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của các các loài sinh vật trong môi trường tiếp xúc, đặc biệt là môi trường sinh thái trong nước [24].
Nồng độ BPA có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người ở nồng độ nanomol. Một số tác động tiêu cực đến sức khỏe liên quan đến nồng độ BPA đã được báo cáo như tăng sinh tế bào, tổn thương DNA, tích tụ lipid, giải phóng insulin, … [25]. Trà Vinh là một tỉnh ven biển của Việt Nam nằm ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi nổi tiếng về các khu chợ ven sông. Nhiều loại hàng hóa bao gồm thực phẩm ăn liền và tươi sống, đồ gia dụng, trái cây, quần áo, v.
được bán ở các khu chợ này. Do đó, cả người bán và khách hàng đều có thể tạo ra nhiều loại lãng phí khác nhau như bao bì đóng gói, lon, thực phẩm thừa hoặc hư hỏng, cũng như chai đựng chất lỏng. Một số được bỏ vào đúng thùng rác, một số di cư ra môi trường xung quanh bao gồm cả các tuyến đường thủy liền kề. Trong giai đoạn 2016-2020, lượng chất thải rắn tại Trà Vinh đã tăng từ 299,18 lên 428,84 tấn/ngày trong khi tỷ lệ thu gom dao động từ 63,46% đến 78,62% [26].
Trong khi đó, khoảng 88,3% và 49,1% chất thải rắn được thu gom tại Đồng bằng sông Cửu Long ở khu vực thành thị và nông thôn [5]. Hơn nữa, theo một nghiên cứu tại Trà Vinh vào năm 2021, mỗi ngày có khoảng 128 tấn chất thải rắn sinh hoạt thải ra môi trường, trong đó có khoảng 7 tấn là nhựa [27]. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng Trà Vinh đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong quản lý chất thải nhựa. Tuy nhiên, còn tồn tại khoảng cách về thực trạng chất HVTH: Trần Thanh Thảo Trang 3 GVHD: PGS.
Lê Văn Khoa – TS. Trần Tuấn Việt Luận văn cao học thải rắn và chất thải nhựa xung quanh các chợ ven sông ở ĐBSCL, trong đó có tỉnh Trà Vinh. Việc xác định thành phần vật lý của các chất thải rắn tại các chợ; phân loại chất thải nhựa; đánh giá nồng độ BPA trong môi trường nước và trầm tích tại khu vực ven kênh, sông giáp chợ; đồng thời phản ánh mức độ rủi ro sinh thái của nồng độ BPA từ chất thải nhựa trong môi trường nước và trầm tích là cần thiết. Khu vực nghiên cứu được lưa chọn là các chợ truyền thống, chợ nổi tiếp giáp với các khu vực kênh, sông tại khu vực Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Nhận thấy được các vấn đề trên, đề tài “Đánh giá mức độ rủi ro tới môi trường nước mặt do ảnh hưởng của chất thải nhựa từ các chợ ven sông tại khu vực Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh” là một nghiên cứu cần được thực hiện. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cần thiết cho sự xác định và đánh giá mức độ rủi ro độc tính thông qua nồng độ Bisphenol A từ các loại chất thải nhựa phát sinh ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt, trầm tích tại khu vực nghiên cứu. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý, giảm thiểu hiệu quả đối với hoạt động chợ truyền thống ven sông của khu vực Duyên Hải nói riêng và tỉnh Trà Vinh nói chung. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá rủi ro môi trường nước mặt của chất thải nhựa tại các chợ ven sông và đề xuất các giải pháp về quản lý, giảm thiểu chất thải nhựa tại khu vực Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Điều tra, khảo sát và xác định thành phần chất thải nhựa tại các chợ ven sông khu vực Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. - Thu thập thông tin và xác định số lượng chợ ven sông tại huyện Duyên Hải và thị xã Duyên Hải; - Lấy mẫu và phân loại chất thải nhựa trong chất thải rắn trong chợ và khu vực ven kênh, sông giáp chợ; - Đánh giá hiện trạng ô nhiễm nhựa tại khu vực nghiên cứu. HVTH: Trần Thanh Thảo Trang 4 GVHD: PGS. Lê Văn Khoa – TS.
Trần Tuấn Việt Luận văn cao học Nội dung 2: Đánh giá mức độ rủi ro đến môi trường nước mặt do ô nhiễm chất thải nhựa tại các chợ ven sông khu vực nghiên cứu. - Lấy mẫu và phân tích nồng độ Bis-phenol A (BPA) trong môi trường nước mặt tại khu vực kênh, sông giáp chợ. - Đánh giá mức độ rủi ro độc tính của các loại nhựa thông qua nồng độ BPA trong môi trường nước mặt tại khu vực kênh, sông giáp chợ. Nội dung 3: Đề xuất biện pháp quản lý và giảm thiểu chất thải nhựa tại khu vực chợ ven sông.
- Đề xuất giải pháp cụ thể cho việc quản lý và giảm thiểu chất thải nhựa chung cho cả khu vực và riêng đối với khu vực chợ ven sông, ven biển.