Mở đầu Giới thiệu đề tài nghiên cứu, trình bày mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. Tổng quan Nêu một số tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, khái quát về địa bàn nghiên cứu xã Xuân Trường, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Nêu một số khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu và một số chỉ tiêu tính toán. Trình bày các phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu sử dụng cho bài nghiên cứu.
Kết quả thảo luận Trình bày kết quả bài nghiên cứu thông qua các bảng số liệu và các phân tích từ bảng số liệu. Kết luận và kiến nghị Trình bày tổng quát kết quả nghiên cứu đạt được của luận văn. Đưa ra đề xuất kiến nghị với chính quyền địa phương và các hộ gia đình nhằm nâng cao khả năng tham gia TMCB trong canh tác cà phê của nông hộ. 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.
Tổng quan tài liệu Thương mại công bằng là tạo cho nông dân cơ hội công bằng để cải thiện vị thế thị trường của họ. Theo FLO thì tiêu chuẩn dành cho người sản xuất nhỏ bao gồm các tiêu chí phát triển xã hội, tạo điều kiện cho Thương mại công bằng đóng góp vào tiềm năng phát triển cũng như tạo điều kiện cho các nhóm người sản xuất thiết lập cơ chế dân chủ và quản trị minh bạch (Fairtrade. Lê Chí Hiếu, (2017). Nghiên cứu đánh giá tính bền vững của mô hình cà phê Thương mại công bằng tại xã Thuận An, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, Luận văn thạc sĩ khoa học bền vững.
Bài nghiên cứu đã đưa ra kết quả đánh giá đánh giá một số tiêu chí của tính bền vững, phần nào thấy được phần ưu điểm, lợi thế của mô hình cà phê TMCB: Về kinh tế, các hộ tham gia mô hình đã có thu nhập cao hơn vì giảm được chi phí đầu vào và tăng giá bán đầu ra, tuy vậy chỉ được đảm bảo nếu nông dân bán được cà phê với giá TMCB, số lượng này không nhiều, chỉ khoảng 30% sản lượng của toàn HTX. Nên có thể thấy sự phụ thuộc rất lớn của hiệu quả kinh tế vào khâu bán cà phê, tức khâu đầu ra cho sản phẩm đã được chứng nhận. Raluca, Daniele và Nathan, (2014). Tác động của Thương mại công bằng: Minh chứng từ nông hộ sản xuất cà phê tại Costa Rica, tạp chí Journal of Economic Perspectives, số 28, trang 217-236.
Với số liệu điều tra từ năm 1999 đến 2014, nhóm tác giả đã đưa ra kết luận, chứng nhận TMCB có tác động tích cực đến giá bán đầu ra, doanh số và doanh thu. Điều này sẽ được thấy rõ hơn khi giá cà phê thế giới thấp hơn so với giá cà phê được đảm bảo bởi TMCB. Brooke Amy Lautz, (2011). Thương mại công bằng và những mục tiêu phát trong sản xuất cà phê, Luận văn Thạc sĩ.
Thông qua bài nghiên cứu, có thể thấy được rằng 4 TMCB là một trong những mặt hàng được giao dịch nhiều nhất trên thế giới và là nguồn thu nhập cho hàng chục triệu người trên toàn thế giới. Cà phê đã trở thành một trong những sản phẩm sao được bảo vệ bởi những nỗ lực TMCB nhằm phát triển bền vững. Becchetti và Constantino, (2008). Tác động của Thương mại cân bằng đối với các nhà sản xuất liên kết: Phân tích tác động đối với nông dân Kenya, tạp chí World Development, số 36, trang 823-842.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thông qua cuộc khảo sát 120 nông dân ở Kenya, người nông dân đã tham gia vào TMCB thành công hơn trong đa dạng sản xuất, cũng như hài lòng với mức giá bán ra hơn, đồng thời họ còn có mức tiêu dùng cao hơn và tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh thấp hơn. Ngược lại, một số nghiên cứu khác lại cho thấy rằng thu nhập của nông hộ sản xuất cà phê có thể bị giảm và những lợi ích tương đối hạn chế khi tham gia TMCB; Kimberly Elliot, (2012). Liệu rằng TMCB cà phê có thực sự công bằng? Xu hướng và thử thách trong chứng nhận Thương mại công bằng, bài báo CGD Policy Paper 017. Nghiên cứu cho thấy các hộ sản xuất nhỏ không tuân thủ các tiêu chuẩn lao động nghiêm ngặt, ngoại trừ lao động cưỡng chế và lao động trẻ em, và nhiều nông hộ thấy rằng lợi ích trực tiếp tương đối hạn chế vì không phải tất cả sản phẩm của họ được bán theo các điều khoản TMCB.
Nhưng các nhà sản xuất vẫn có thể thu được lợi nhuận từ sự gia tăng thông tin và cạnh tranh được cung cấp bởi TMCB và từ hỗ trợ cải thiện chất lượng và liên kết với các thị trường quốc tế. Có những người tiêu dùng sẵn sàng trả tiền cho hàng hóa TMCB và các nhà sản xuất sẵn sàng chịu chi phí chứng nhận. Ruben và Fort, (2012). Nghiên cứu tác động của chứng nhận TMCB đến các nhà sản xuất cà phê tại Peru, tạp chí World Development, số 40, trang 570-582.
Bài nghiên cứu đã dựa vào khảo sát từ 6 hợp tác xã, trong đó có 3 hợp tác xã có chứng nhận TMCB, kết quả cho thấy không có mối liên hệ giữa chứng nhận TMCB và thu nhập nông hộ hay giá cả tốt hơn. Tuy vậy, họ phát hiện ra chứng nhận TMCB gắn với chi tiêu gia đình cao hơn, đầu tư vào cơ sở hạ tầng nhiều hơn, tiếp cận tín dụng tốt hơn. Beuchelt và M Zeller, (2011). Nghiên cứu về lợi nhuận và nghèo đói: Liên kết rắc rối của tín chỉ đối với các nhà sản xuất cà phê hữu cơ và công bằng thương mại tại Nicaragua, tạp chí Ecological Economics, số 7, trang 1316-1324.
Kết quả bài nghiên cứu chỉ ra nông dân sản xuất cà phê hữu cơ và cà phê có tín chỉ TMCB đã trở nên nghèo hơn so với các nhà sản xuất thông thường, do vậy mức năng suất cà phê, lợi nhuận và 5 hiệu quả cần phải được tăng lên, bởi vì giá cà phê được chứng nhận không thể bù đắp cho năng suất thấp, hạn chế về đất đai hoặc lao động. Qua đó, thấy được rằng có hai hướng kết quả trái ngược nhau của các nhóm tác giả khi nghiên cứu về những lợi ích hay hạn chế của nông hộ sản xuất cà phê khi tham gia vào mô hình TMCB. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 2. Điều kiện tự nhiên a.
Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình - Vị trí địa lý Hình 2.1 Bản Đồ Thành Phố Đà Lạt Thành phố Đà Lạt rộng 394,64 km², nằm trên cao nguyên Lâm Viên, nơi có độ cao khoảng 1.500 mét so với mực nước biển. Thành phố có tọa độ địa lý 11°48′36″ đến 12°01′07″ vĩ độ bắc và 108°19′23″ đến 108°36′27″ kinh độ đông. Dân số Đà Lạt năm 2018 là 406. Đây là đô thị miền núi đông dân đứng thứ hai cả nước, chỉ sau thành phố Buôn Ma Thuột.
Địa giới hành chính thành phố: Phía đông và đông nam giáp huyện Đơn Dương Phía tây giáp huyện Lâm Hà Phía nam giáp huyện Đức Trọng Phía bắc giáp huyện Lạc Dương 6 Xuân Trường có diện tích 35.64 km², với dân số 6. - Đặc điểm địa hình Địa hình Đà Lạt được phân thành hai dạng rõ rệt: địa hình núi và địa hình bình nguyên trên núi. Địa hình núi phân bố xung quanh vùng cao nguyên trung tâm thành phố.700m tạo thành một vành đai chắn gió che cho khu vực lòng chảo trung tâm. Từ thành phố nhìn về hướng bắc, dãy Lang Biang như một tường thành theo hướng đông bắc – tây nam, kéo dài từ suối Đạ Sar đến hồ Dankia.
Hai đỉnh cao nhất của dãy núi này có độ cao 2. Án ngữ phía đông và đông nam Đà Lạt là hai dãy Bi Doup và Cho Proline. Về phía nam, địa hình núi chuyển tiếp sang bậc địa hình thấp hơn, đặc trưng là khu vực đèo Prenn với các dãy núi cao xen kẽ những thung lũng sâu. Trung tâm Đà Lạt như một lòng chảo hình bầu dục dọc theo hướng bắc – nam với chiều dài khoảng 18 km, chiều rộng khoảng 12 km.
Những dãy đồi đỉnh tròn ở đây có độ cao tương đối đồng đều nhau, sườn thoải về hướng hồ Xuân Hương và dần cao về phía các vùng núi bao quanh. Trên địa phận thành phố Đà Lạt, xen giữa vùng đồi thấp trung tâm thành phố và các dãy núi bao quanh, có thể thấy hơn 20 dòng suối có chiều dài trên 4 km, thuộc các hệ thống suối Cam Ly, Đa Tam và hệ thống sông Đa Nhim. Đây đều là những con suối đầu nguồn thuộc lưu vực sông Đồng Nai, trong đó hơn một nửa là các con suối cạn, chỉ chảy vào mùa mưa và cạn kiệt vào mùa khô. - Khí hậu Do nằm ở độ cao 1.500 mét và được các dãy núi cùng quần hệ thực vật rừng, đặc biệt là rừng thông bao quanh, nên đối lập với khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền trung và khí hậu nhiệt đới xavan ở miền nam, thành phố Đà Lạt có một khí hậu miền núi ôn hòa dịu mát quanh năm.
Đà Lạt có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10. Còn mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau. Vào mùa khô, Đà Lạt chịu ảnh hưởng của khối không khí biển Đông, mang lại thời tiết nắng ấm, ít mây, không mưa, nhiệt độ hạ thấp về ban đêm và biên độ nhiệt lớn.
Trong những tháng mùa mưa, gió mùa đông bắc hầu như không còn ảnh hưởng đến Đà Lạt, thay thế bởi khối không khí xích đạo từ phía nam tràn lên phía bắc. Gió mùa tây nam mang lại nguồn ẩm chủ yếu cho những trận mưa lớn và những 7 đợt mưa kéo dài nhiều ngày. Mặc dù vậy, do ảnh hưởng của khối không khí nhiệt đới Thái Bình Dương, trong mùa mưa vẫn có những thời kỳ thời tiết tạnh ráo. Nhiệt độ trung bình tháng ở Đà Lạt luôn dưới 20°C, ngay cả trong những tháng nóng nhất.
Trong những tháng mùa đông, nhiệt độ trung bình tháng vẫn trên 15°C. Biên độ nhiệt độ ngày đêm ở Đà Lạt trung bình năm đạt 11°C, cao nhất trong những tháng mùa khô, lên tới 13 – 14°C, và thấp nhất trong những tháng mùa mưa, chỉ khoảng 6 – 7°C. Ngược lại, biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm lại nhỏ, tháng ấm nhất và tháng lạnh nhất cũng chỉ chênh lệch 3,5°C. Tài nguyên thiên nhiên - Tài nguyên đất Lâm Đồng có 9 nhóm đất khác nhau.
Đất có độ dốc dưới 25o chiếm trên 50%, đất dốc trên 25o chiếm gần 50%. Chất lượng đất đai của Lâm Đồng rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng 255.400 ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, trong đó có 200.