CHƯƠNG I TÔNG QUAN TÀI LIỆU I. Thục trạng vấn đề SKSS/SKTD của VTN/TN: Tuổi trẻ ngày nay bước vào dậy thì sớm hon và cũng lập gia đình muộn hon các thế hệ trước đây và họ phải trải qua một thời gian dài hon giữa dậy thì và hôn nhân. Đây là thời kỳ họ được tiếp nhận nhiều thông tin về những cơ hội để phát triển về xã hội nhưng cũng là giai đoạn họ phải đổi mặt với nhũng áp lực, những thách thức liên quan đến SKSS/TD của chính mình. Quan hệ tình dục sớm ở độ tuổi học sinh là vấn đề xã hội ở nhiều nước trên thế giới, cả những nước đang phát triển và cả những nước phát triển đã và đang phải đối diện với vấn đề quan hệ tình dục sớm và những hậu quả của nó ở thanh thiếu niên.
Ở Thái Lan: Ngay từ những thập niên 70 của Thế kỷ 20 đã nhận thấy rằng hoạt động tình dục ở thanh thiếu nên ngày càng gia tăng. Hơn 60% thanh thiếu niên nam có quan hệ tình dục với bạn gái hạơc với gái điém, một sổ mới chỉ 13 tuổi. Số em gái tuy có ít hơn nhung số các em trở thành các bà mẹ trẻ cũng đã tăng. Hậu quả tất yếu của hoạt động tình dục sớm là các bệnh lây truyền qua đường tình dục và các thai nghén không mong muốn cũng tăng lên.
Chính vì tình hình đỏ mà Chính phủ đã chấp nhận chương trình giáo dục về sinh lý sinh sản ở các trường trung học. Ở Trung Quốc: Theo các thống kê thăm dò thì có khoảng 20% học sinh nữ có quan hệ tình dục dù nhà trường đã răn đe bằng các biện pháp như đuổi học. Trinh tiết không còn là tiêu chuẩn quan trọng nhất khi người ta kén chọn vợ. Tuổi dậy thì xem ra đã đến sớm hơn binh thường (1 năm với nam và 2 năm với nữ).
Từ thực tế đó, môn giáo dục giới tính đã được đưa vào chương trình phổ thông từ năm 1985 với sự tham dự rất siêng năng của học sinh vị thành niên. Hồng Kông: Luật phá thai hợp pháp đã có từ năm 1973, từ năm đó cho đến năm 1977, sổ lượng nhũng cô gái vị thành niên phá thai đã tăng lên 11 lần. số liệu thốngkê điều tra trong khoảng thời gian từ 1980- 1990 cho thấy 54% số cô gái từ 15 đến 18 tuổi không phải chỉ quan hệ tình dục với một bạn trai duy nhát, trong 6 năm 1991 tỷ lệ nói trên giảm xuống còn 29% nhờ những cổ gắng về giáo dục mói quan hệ nhân văn giữa nam và nữ. Sau khi phá thai, tỷ lệ các cô gái biết rút kinh nghiệm và biết sử dụng các biện pháp tránh thai cũng đã tăng lên.
Nhật Bản: 11% sinh viên nữ cho biết đã có quan hệ tình dụcc trước tuổi 17 (nghĩa là từ khi còn ở cấp Trung học), 26% ở tuổi 18 (trong khi ở tuổi này tỷ lệ của nam là 43%). Ở Việt Nam, tại một nghiên cứu trên hon 3196 em học sinh THPT tại thành phố HCM thì có tới 261 em (chiếm 8,17%) đã có quan hệ tình dục [6]. Nhiều nghiên cứu cho thấy khi quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân lần đầu, phần đông vị thành niên thiếu hiểu biết về sinh sản và tình dục; không được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các biện pháp tránh thai. Nữ VTN thường không có đủ quyền lực, thiếu tự tin và kỹ năng ra quyết định đế từ chối QHTD khi họ không mong muốn.
Trong QHTD lần đầu, thường là các em gái bị nài ép hon là tự nguyện. Một khi có hoạt động tình dục, nhóm người trẻ tuổi này cũng dễ gặp các vấn đề có liên quan đến hoạt động tình dục như: có thai ngoài ý muốn, tai biến do thai nghén và sinh nở, phá thai không an toàn và các bệnh LTQĐTD- HIV/AIDS. Hệ quả là mỗi năm Việt Nam có khoảng 1,4 triệu ca nạo phá thai, trong đó có 500 nghìn ca ở tuổi vị thành niên, 25% số ca chưa lập gia đình và 20% số ca khi còn ở tuổi vị thành niên. Điều rất đáng lo ngại là sổ trẻ vị thành niên đi phá thai ngày càng nhiều.
Do những yếu tố sinh lý và xã hội đặc thù của giới, nữ vị thành niên dễ bị các biến chứng liên quan đến thai nghén, dễ bị mắc bệnh LTQĐTD kê cả HIV/A1DS và phá thai không an toàn hon là ở những phụ nữ đã lớn tuổi. Báo cáo tổng hợp về SKSSVTN năm 2003 của ƯBQGDS chỉ ra trong vòng 10 năm qua, số ca mắc nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục tăng gấp đôi, số người có HIV độ tuổi 13-19 tăng gấp 8,3 lần, độ tuổi 20 - 29 tàng gấp 6,2 lần. Trong số VTN/TN nam giới độc thân thi tỷ lệ có quan hệ tình dục lần đầu với gái mại dâm là 4,5% và tới 19% trong số đã có quan hệ tình dục đã quan hệ lần đầu ở khách sạn, nhà trọ. Đây là một trong nhũng nguy cơ cao đối với các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong VTN/TN.
Có thể nói, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới quan hệ tình dục không an toàn ở VTN/TN là do thiếu hụt các kiến thức về SKSS và SKTD bao gồm cả HIV/AIDS 7 và các biện pháp tránh thai. Trong một khảo sát trên sinh viên Đại học tại TP. HCM cho thấy trong số 192 sinh viên có QHTD thì có 26 trường hợp có thai ngoài ý muốn với tỷ lệ 13,5% và tất cả các trường hợp này đều kết thúc bằng phá thai. Trong điều tra SAVY (2003) trên 7.584 VTN/TN tuổi từ 14-25, 19,7% nữ VTN/TN được phỏng vấn cho biết đã từng có thai, nữ nông thôn có tỷ lệ cao hom ở thành thị lần lượt là 21,8% và 13,3%.
Với nhóm tuổi 22-25 tỷ lệ đã từng có thai ở thành thị cao hom ở nông thôn (36,3% so với 65,4%). Nghiên cứu tại Hải phòng chỉ ra rằng trong khi số VTN biết về BCS thì cao (86.7%) nhưng chi có khoảng 34% có thể mô tả chính xác cách sử dụng bao cao su, 61.6% biết về thuốc viên những chỉ có 11% biết được cách uống để tránh thai. Khoảng 2,5% biết về thuốc tránh thai khẩn cấp và chỉ có 0,6% biết cách sử dụng [8]. Đồng thời kiến thức về có thai và tránh thai của các em cũng khá thấp với tỷ lệ chỉ có 28,7% các em trả lời đúng về thời kỳ dễ có thai nhất trong chu kỳ kinh nguyệt và có tới 80% các em không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào trong lần quan hệ đầu tiên ở nhóm đã có quan hệ tình dục Trong khi quan điểm của VTN/TN hiện nay khá cởi mở về quan hệ tình dục trước hôn nhân thì thái độ đối với việc sử dụng BCS trong quan hệ tình dục vẫn còn khá tiêu cực.
Kết quả điều tra SAVY chỉ rõ có tới 31,7% VTN/TN cho rằng có thể quan hệ tình dục trước hôn nhân nếu như cả 2 cùng tự nguyện, 7,6% trả lời đã có QHTD trước hôn nhân. Tuy nhiên, có tới 54,4% cho rằng“ Phụ nữ mang theo bao cao su có thể là không đứng đắn“ và 53% cho rằng“Đàn ông mang theo bao cao su là không đứng đắn“; 30,2% cho rằng “ốữơ cao su chỉ dành cho người mại dâm và kẻ không chung thuỷ Điều này cho thấy hiệu quả hạn chế của công tác thông tin — giáo dục - truyền thông SKSS trong xã hội nói chung và đối với VTN/TN nói riêng. II/ Một số dự án/mô hình đã đu’Ọ’c triển khai nhằm nâng cao kiến thức, nhận thức của học sinh, vị thành niên về SKSS. Ngay từ những năm 1984-1991, với sự trợ giúp của Quỹ dân số liên hợp quốc, chưomg trình giáo dục dân sổ do Bộ giáo dục thực hiện đã sớm đưa vào thí điểm trong trường phổ thông.
Để đánh giá kết quả của việc giáo dục SKSS cho học sinh trong trường học, nghiên cứu khảo sát đánh giá kết quả giáo dục 8 DS/SKSS/KHHGĐ cho học sinh phổ thông và VTN đã được Viện Khoa học DS GĐ và TE/UBDS GĐ TE thực hiện năm 2004. Nghiên cứu đã được thực hiện trên 3.400 học sinh và VTN ngoài trường học tại 5 tỉnh: Hải Phòng, Lào Cai, Đồng Tháp. Quảng Nam, Đồng Nai. Kết quả đem lại một bức tranh khá phong phú về thực trạng kiến thức cũng như quan điểm của các em học sinh và VTN ngoài nhà trường đối với việc tiếp nhận các thông tin về SKSS.
Cụ thể là: Chỉ có 10,6% đối tượng nghiên cứu biết giai đoạn dễ có thai trong chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ và thấp nhất trong nhóm VTN ngoài trường học (8,3%); đồng thời có tới gần một nửa (44,2%) không biết giai đoạn nào trong chu kỳ là dễ có thai nhất và có tới 7,4% các em cho rằng giai đoạn dễ có thai nhất trong chu kỳ là giai đoạn đang hành kinh. Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy các cán bộ quản lý ngành giáo dục và giáo viên nhìn chung đồng tình với việc cung cấp các thông tin và giáo dục về SKSS cho học sinh. Tuy vậy vẫn còn một số ý kiến cho ràng việc giáo dục trong nhà trường về SKSS cho học sinh là một hình thức “vẽ đường cho hươu chạy” và không nên thực hiện. Chương trình sáng kiến chăm sóc SKSS cho thanh thiếu niên Việt nam (RHIYA) triển khai với sự hỗ trợ cùa Uỷ ban Châu Âu, quỹ Dân số LHQ năm 2004-2006 đã cung cấp những thông tin và dịch vụ cho giới trẻ nhằm tăng cường sự hiểu biết đồng thời khuyến khích những hành vi sinh hoạt tình dục lành mạnh và an toàn.
Thông qua chương trình này, 7 tỉnh thành trong cả nước đã thành lập 22 góc dịch vụ thân thiện tại cộng đồng, nơi thanh thiếu niên có thể tiếp nhận thông tin, tư vấn và dịch vụ khám chữa bệnh mang tính thân thiện, gần gũi và phù hợp với nhu cầu của mình. Kết quả điều tra cuối kỳ cho thấy chương trình đã đạt được một số thành công nhất định như cải thiện khả năng tiếp cận tới các thông tin về các BPTT với tỷ lệ 96,1% đối tượng nhận được thông tin về BPTT trong 6 tháng trước khi diễn ra cuộc điều tra. Đồng thời cải thiện được kiến thức về cách sử dụng BPTT của VTN/TN cụ thể là tỷ lệ VTN/TN biết cách sử dụng các BPTT đã tăng thêm được 30% (từ 50 lên 80%) so với đầu kỳ.