Đặt vấn đề Trong những thập kỷ gần đây, người ta đã chú trọng nhiều đến việc phát triển hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững, trong đó ngành chăn nuôi là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổng thể. Tuy nhiên sản xuất chăn nuôi đang phải đối đầu với những khó khăn không chỉ về mặt kỹ thuật như việc cung cấp thức ăn, sức khỏe gia súc, tạo giống và quản lý mà cả những yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội. Ở nhiều nước trên thế giới, nông dân ngày càng mở rộng mô hình chăn nuôi theo hướng chuyên môn hóa. Năng suất cá thể gia súc và năng suất vật nuôi trên một đơn vị ha đất cũng như quy mô trang trại đang tăng lên một cách đáng kể.
Tuy nhiên sự thâm canh với mật độ ngày càng cao như hiện nay cũng đã và đang làm phát sinh những vấn đề gây sự quan tâm từ xã hội đó là ô nhiễm môi trường. Việc thu trữ và xử lý các chất thải chăn nuôi gặp nhiều khó khăn khi tăng cường thâm canh. Tác động do các chất thải chăn nuôi lên chất lượng môi trường không khí, đất và nước đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới hệ sinh thái, đến chuỗi thức ăn và sức khỏe con người. Ô nhiễm mùi và nước thải từ các chất thải chăn nuôi trong chuồng trại, các hệ thống lưu trữ hoặc từ quá trình sử dụng phân bón trên đồng ruộng đang là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý môi trường và của nhân dân trong các khu vực chăn nuôi nhất là ở nơi có mật độ gia súc gia cầm cao.
Việc thể chế hóa thành luận pháp và xây dựng các biện pháp nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của các hệ thống chăn nuôi đến môi trường và tái sử dụng kinh tế chất thải đang là vấn đề cấp thiết. Nước ta là một nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế - xã hội nước ta. Những năm qua, ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh về cả số lượng lẫn quy mô. Tuy nhiên, việc chăn n 2 nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ, thiếu quy hoạch, nhất là các vùng dân cư đông đúc đã gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng.
Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, chất thải lỏng, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy không đúng kỹ thuật. Một kết quả kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn trong chuồng nuôi gia súc cho thấy, tổng số vi khuẩn trong không khí ở chuồng nuôi cao gấp 30-40 lần so với không khí bên ngoài. Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh, các chi phí phòng trị bệnh, giảm năng suất và hiệu quả kinh tế. Sức đề kháng của gia súc, gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ gây nên bùng phát dịch bệnh.
Vì vậy, WHO [2005] khuyến cáo phải có các giải pháp tăng cường việc làm trong sạch môi trường chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ vững được an toàn sinh học, tăng cường sức khỏe các đàn giống. Các chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường do vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) là đặc biệt nguy hiểm, vì nó sẽ làm phát sinh các loại dịch bệnh như ỉa chảy, lở mồm long móng, tai xanh, cúm gia cầm H5N1. Vật Lại là một xã của huyện Ba Vì, cùng với xu hướng phát triển chung của huyện Ba Vì trong những năm qua kinh tế của xã Vật Lại đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những thành tựu quan trọng về nhiều mặt, cơ sở hạ tầng tiếp tục phát triển như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế và các công trình văn hóa phúc lợi; đời sống vật chất tinh thần của người dân được nâng cao. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế và cơ sở hạ tầng, chăn nuôi tại Huyện cũng có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng, hình thức tổ chức và chủng loại vật nuôi.
Chăn nuôi phát triển cũng kéo theo hàng loạt các vấn đề về môi trường, lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều. n 3 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và để tăng thêm kiến thức, kinh nghiệm làm việc, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy PGS. Nguyễn Thế Hùng, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải lỏng tại trại heo nái Mr. Lộc tại xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội”, nhằm tìm ra hướng xử lý tốt cho vấn đề ô nhiễm do chăn nuôi trên địa bàn xã.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá được công tác quản lý và xử lý chất thải lỏng tại trại heo nái Mr. Lộc tại xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội để nâng cao công tác quản lý và xử lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng xử lý chất thải lỏng trong chăn nuôi heo đang áp dụng tại trang trại Mr.
- Đánh giá mức độ ô nhiễm của một số yếu tố môi trường tại trang trại heo nái Mr. Yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1. Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực. - Nội dung nghiên cứu thực hiện được các mục tiêu đề ra 1.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Đề tài nhằm vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiểu biết về công tác quản lý và xử lý ô nhiễm môi trường cho các hộ chăn nuôi. Đồng thời nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho học tập và công tác sau này. n 4 - Ý nghĩa trong thực tiễn: Góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi để nâng cao chất lượng môi trường sống cho cộng đồng dân cư. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác. Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.
Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Chất gây ô nhiễm là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm. Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Chất gây ô nhiễm là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm.
Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường. n 6 Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường. Tác động của chăn nuôi tới đời sống và nền kinh tế 2. Vai trò của ngành chăn nuôi Xét trên bình diện thế giới, nhất là với các nước châu Á, chăn nuôi luôn là một ngành kinh tế nông nghiệp quan trọng.
Hiện nay trên toàn thế giới có hơn 600 triệu người nghèo đói, sống với mức trong khoảng dưới 1 đô la Mỹ/ ngày. Trên một mức độ nào đó họ dựa vào chăn nuôi gia đình làm kế sinh nhai, một nửa số này hiện đang sống tại châu Á (Thornton và cộng sự, 2002). Bên cạnh những người chăn nuôi, hàng triệu công việc liên quan xuất hiện song song với chuỗi giá trị của nó, trong các dịch vụ và cung cấp các vật tư và trong cả chuỗi mắt xích tiêu thụ, chế biến và bán lẻ. Theo tính toán có từ khoảng 4 đến 17 công việc ngoài trang trại được phát sinh khi ta thu gom, chế biến và tiêu thụ được 100 lít sữa, số lượng lao động phụ thuộc vào số sản phẩm được bán ra.Đặc điểm nổi bật của nông nghiệp Việt Nam là hệ thống sản xuất kết hợp mà rõ ràng nhất là sự kết hợp mật thiết giữa chăn nuôi và trồng trọt,trong đó trâu bò được sử dụng làm sức cày kéo trong trồng trọt, cũng như nuôi heo và trồng lúa hỗtrợ lẫn nhau.
Ở đồng bằng Sông Hồng, nông dân thường ví cảnh sung túc với “lúa đầy bồ, heo chật chuồng”, có nghĩa là nếu đầu heo tăng sẽ có nhiều lúa gạo và ngược lại. Có thể thấy rất lâu rồi, phân chuồng được coi là loại phân có giá trị trong trồng lúa. Mặc dù heo thực sự là tốn rất nhiều thóc gạo, nhưng trong hệ thống sản xuất nông hộ, sự mâu thuẫn này hình như không nghiêm trọng như ta nghĩ, có lẽ một phần vì người ta đã sử dụng hợp lý các nguồn thức ăn tại chỗ, một phần khác là do n 7 năng suất lúa vẫn còn có thể tăng mà chưa đạt đến mức giới hạn. Người ta có thể thấy những lợi thế rõ ràng của ngành chăn nuôi như: sự khép kín với trồng trọt, phù hợp với khả năng đầu tư và trình độ kỹ thuật của nông hộ.
Nó cũng cho phép sử dụng tốt hơn các giống địa phương có đặc điểm là năng suất thấp nhưng lại thích nghi tốt với điều kiện sinh thái.