Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và lý luận của đề tài 1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với đất đai Đất đai là một loại tài nguyên đặc biệt; đất đai gắn liền với chủ quyền lãnh thổ của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, do đó bất kỳ quốc gia nào cũng đòi hỏi sự can thiệp và điều tiết của nhà nước đối với đất đai. Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quản lý thống nhất.
Nhà nước thể hiện vai trò chủ sở hữu đối với đất đai thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện các chính sách về đất đai. Quản lý nhà nước đối với đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, là thực hiện quản lý theo 13 nội dung gồm: (1) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; (2) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; (3) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; (4) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; (5) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; (6) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (7) Thống kê, kiểm Kế đất đai; (8)Quản lý tài chính về đất đai; (9) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; (10) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; (11) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; (12) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai; (13) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. Các hoạt động trên của chính quyền cấp huyện n 5 nhằm mục đích góp phần bảo vệ vai trò đại diện quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai. Từ những vấn đề trên có thể khái quát: QLNN đối với đất đai là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai, nhằm mang lại môi trường thuận lợi nhất cho người SDĐ trong việc thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với đất đai, đảm bảo đất đai được sử dụng tiết kiệm có hiệu quả đáp ứng các nhu cầu phát triển KT- XH cũng như bảo vệ môi trường sống bền vững.
Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai QLNN đối với đất đai theo các nguyên tắc chủ yếu sau: a. Nguyên tắc đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước đối với đất đai: Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân, vì vậy, chỉ có Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. QLNN đối với đất đai phải theo luật định nhằm tạo điều kiện cho người SDĐ phát huy tối đa các quyền đối với đất đai, sao cho đất đai được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả phục vụ tốt nhất các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Nguyên tắc phân quyền gắn liền với các điều kiện bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ: Nhà nước thực hiện việc phân cấp cho chính quyền các cấp thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai theo quy định của pháp luật.
Việc phân cấp quản lý để xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của từng cấp mà không làm suy giảm tính thống nhất quản lý. Việc quản lý đất đai của cấp dưới luôn nằm trong sự chỉ đạo, giám sát của cấp trên đồng thời cấp trên có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp, kiểm tra chặt chẽ tình hình thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới, đảm bảo để cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ. Nguyên tắc tập trung dân chủ: Quản lý nhà nước về đất đai phải tuân thủ quy định của pháp luật và thực hiện quyền chủ sở hữu toàn dân về đất đai, bằng việc tạo điều kiện để người dân có thể tham gia giám sát hoạt động QLNN đối với đất đai một cách trực tiếp hoặc thông qua tổ chức HĐND và các tổ chức chính trị- xã hội khác. Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với địa phương và vùng lãnh thổ: Chính quyền các cấp thống nhất QLNN về đất đai theo địa giới hành chính, điều này có nghĩa là có sự hài hoà giữa quản lý theo lãnh thổ và quản lý theo chuyên ngành và ngay cả các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn huyện cũng phải chịu sự quản lý của Chính quyền địa phương.
Chính quyền địa phương có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan trung ương hoạt động, đồng thời có quyền giám sát kiểm tra các cơ quan này trong việc thực hiện pháp luật đất đai, cũng như các quy định khác của Nhà nước, có quyền xử lý hoặc kiến nghị xử lý nếu vi phạm. Nguyên tắc kế thừa và tôn trọng lịch sử: Quản lý nhà nước đối với đất đai phải kế thừa các quy định của luật pháp của Nhà nước trước đây, cũng như tính lịch sử trong QLĐĐ qua các thời kỳ của cách mạng. Mục đích quản lý nhà nước về đất đai QLNN đối với đất đai là nhằm đảm bảo 3 mục đích cơ bản sau: a) Đảm bảo sử dụng đất hợp lý, hiệu quả: Đất đai là một tài nguyên quý giá, tư liệu sản xuất đặc biệt., không tái tạo được. Do vậy, đất đai cần được sử dụng một cách tiết kiệm, nhằm mang lại nguồn lợi ích cao nhất cả về mặt vật chất và tinh thần cho mọi người trước mắt cũng như lâu dài.
b) Đảm bảo tính công bằng trong quản lý và sử dụng đất: Các chính sách quản lý của Nhà nước, nhằm bảo đảm sự phân bổ hợp lý giữa lợi ích thu được với chi phí phải bỏ ra tương ứng cho các bộ phận dân cư khác nhau. Về nguyên tắc, Nhà nước không để cho nhóm dân cư này gây tác hại cho nhóm dân cư khác mà không chịu sự trừng phạt. Chính sách đất đai của n 7 Nhà nước cũng có chính sách ưu đãi đối với người nghèo, nhóm người dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, dân tộc thiểu số. Việc phân bổ đất thường chịu sự tác động của quy luật kinh tế thị trường là tối đa hóa lợi nhuận, do đó chính sách của Nhà nước có nhiệm vụ điều hòa lợi ích để đảm bảo sự công bằng.
c) Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: Nhà nước có chính sách phát huy nguồn vốn đất đai, bảo đảm các nguồn thu tài chính từ đất đai cho ngân sách. Nhà nước điều tiết hợp lý các khoản thu, chi ngân sách, phần giá trị tăng thêm của đất do quy hoạch, các khoản thu do đầu tư thu được từ đất đai. Nguồn thu ngân sách nhà nước từ đất đai bao gồm: Tiền sử dụng đất; Thuế, Phí; Các khoản thu nhập khác từ đất đai. Công cụ quản lý nhà nước về đất đai a) Luật pháp về đất đai: Luật pháp là phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Pháp luật trước hết là một trong những yếu tố đảm bảo và bảo vệ sự ổn định xã hội. Quản lý nhà nước đối với đất đai dựa trên nền tảng là Luật Đất đai, và các luật khác có liên quan đến đất đai như: Luật Dân sự, Luật Xây dựng, Luật Bất động sản, Luật Khiếu nại, Tố cáo. Ngoài ra để hướng dẫn thực hiện các Luật còn có các Nghị định, Quyết định, các Thông tư, Chỉ thị của Chính phủ, các Bộ các Ngành có liên quan đến QLNN về đất đai tạo thành hệ thống Luật pháp về đất đai. b) Quy hoạch đất đai: Quy hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong công tác quản lý đất đai.
Luật Đất đai 2003 quy định "Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật". QH SDĐ được xây dựng để tổ chức không gian, cảnh quan kiến trúc, bố trí mặt bằng nơi ở, làm việc, dịch vụ giải trí, bố trí giao thông. nhằm đảm bảo các nhu cầu thiết yếu cho đời sống xã hội, sự hài hoà giữa các lợi ích, sự cân bằng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. n 8 c) Chính sách tài chính đất đai: Chính sách tài chính về đất đai là một công cụ trong QLNN về đất đai, công cụ tài chính tác động một cách trực tiếp đến đầu tư, phát triển và đảm bảo đưa các quy hoạch, kế hoạch SDĐ thành hiện thực.
Công cụ tài chính gồm các quy định về nguồn thu ngân sách từ đất đai do Nhà nước quy định. Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước chủ động điều tiết giá đất bằng quan hệ cung- cầu về đất, hệ thống thuế đất đai; cơ chế thu hút vốn đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản bằng nguồn ngân sách nhà nước, vốn của các thành phần kinh tế, vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng, bằng huy động tiền tiết kiệm của dân thông qua chứng khoán bất động sản. Tiền sử dụng đất, các loại thuế, các khoản phí từ đất đai là nguồn thu chính của Nhà nước trong quản lý nguồn thu tài chính từ đất đai. Chính sách thuế về đất đai là những quy định có tính nguyên tắc, thể hiện chính sách, chủ trương của Nhà nước trong quản lý, điều tiết thị trường đất đai một cách có hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế.
Chính sách QLNN về đất đai có một tầm quan trọng đặc biệt khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế quản lý hành chính tập trung "bao cấp" sang quản lý nền kinh tế dựa trên điều tiết của thị trường. d) Bộ máy quản lý nhà nước về đất đai: Với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai, Nhà nước thực hiện các quyền đối với đất đai thông qua hệ thống các cơ quan QLNN về đất đai từ trung ương đến địa phương nhằm bảo đảm cho đất đai được sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, đúng pháp luật.