Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng và quản lý nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp Chương II: Hiện trạng sử dụng và quản lý nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp tại huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng quản lý nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp tại huyện Thanh Miện CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE SỬ DỤNG VA QUAN LÝ NGUON NƯỚC TRONG SAN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về sử dụng và quản lý nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp 1. Khái niệm quản lý nguồn nước và hệ thống cấp nước cho sản xuất nông nghiệp a) Khái niệm quan lý nguồn nước Theo Khoản 2, Điều 2 của Luật Tài nguyên nước năm 2012: “Nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới dat; mua, bang, tuyét và các dang tích tụ nước khác”. Theo tác giả Hà Văn Khối (2005): “Quan lý nguồn nước là sự xác định phương thức quản lý nguồn nước trên một vùng, một lãnh thổ hay một hệ thống sông một cách hiệu quả và đảm bảo yêu cầu về sự phát triển bền vững cho vùng hoặc lưu vực sông, nhằm kiểm soát các hoạt động khai thác nguồn nước và những hoạt động dân sinh kinh tế có tác động tích cực và tiêu cực đến cân bằng sinh thái và suy thoái nguồn nước trên một vùng lãnh thổ hoặc lưu vực sông”.
b) Khái niệm hệ thong cấp nước cho sản xuất nông nghiệp Hệ thống cấp nước cho sản xuất nông nghiệp (SXNN) hay còn được gọi là hệ thong thủy lợi (HTTL) là một công trình liên hoàn từ công trình đầu mối (hồ chứa, đập dâng, trạm bom,.) đến công trình kênh mương các cấp dé dẫn nước tưới tiêu phục vụ SXNN, đảm bảo cung cấp nước cho cây trồng khi thiếu nước và tiêu thoát nước kịp thời cho cây trồng khi thừa nước nhằm thỏa mãn yêu cầu nước cho cây trồng phát triển tốt và cho năng suất cao. Hệ thống thủy lợi bao gồm: - Nguồn nước là nơi cung cấp nước cho hệ thống, bao gồm ao hồ chứa, dòng sông, suối, hoặc nước ngầm,.Đặc điểm và chất lượng nước của nguồn nước có vai trò quan trọng đối với chi phí xây dựng hệ thống tưới. - Công trình đầu mối gồm: đập dâng, hồ chứa, trạm bơm tưới, tràn xả lũ, cống lay nước, có nhiệm vụ phối hợp một cách hợp lý nhất yêu cầu cấp thoát nước của hệ thống với nguồn nước. Tùy theo từng trường hợp cụ thé dé quyết định các hình thức, quy mô công trình,.
- Mạng lưới kênh mương: “mạng lưới kênh mương có nhiệm vụ dẫn nước từ công trình đầu mối về ruộng, đây là hệ thống xương sống quan trọng của hệ thống tưới tiêu. Kênh được làm bang đất hay xây đá, gạch,. Hệ thống kênh tưới có nhiều cấp, tùy thuộc vào quy mô hệ thống mà số cấp nhiều hay cấp ít, nhiều nhất có thê đến 5 cấp, ít nhất là 2 cấp. Theo quy chuân TCVN 4118-2021 thì kênh tưới được phân làm 4 cấp (cấp công trình, không tính cấp đặc biệt) dé xác định tiêu chuẩn thiết kế và các hạng mục liên quan.1: Phân cấp kênh tưới Diện tích tưới (10° ha) Cấp công trình kênh =50+ 75 I 10+<50 II >2+< 10 Il <2 IV Nguồn: TCVN 4118-2021 - Các công trình kênh bao gồm: Bao gồm cống dau kênh, dốc nước, bậc nước, công qua đường, cầu giao thông,.
- Hệ thống bờ bao là “loại hệ thống công trình nhỏ có tác dụng quan trọng trong việc ngăn nước, giữ nước, giữ màu. Bờ vùng là bờ ven theo mương cấp 2 hoặc cấp 3 có tác dụng ngăn nước ngoại lai, nước từ khu đồng cao dồn xuống khu đồng thấp. Bờ khoảng là bờ ven theo mương cấp 3 hoặc cấp 4 có tác dụng điều chỉnh nước mưa tại chỗ trong vùng. Bờ thửa là hệ thống bờ ven theo rãnh tưới có tác dụng giữ nước màu và làm đường di lại khi chăm bón” (Phạm Ngọc Hải cùng cộng sự, 2006).
Theo tác giả Hà Văn Khối (2005): “Quan lý khai thác HTCTTL là sự thiết lập các phương thức quản lý CTTL, xây dựng chương trình điều khiến, điều hành hệ thống, đảm bảo tính hiệu quả của việc sử dụng nước và đảm bảo sự phát triển bền vững. Quản lý HTCTTL bởi vậy chỉ là một nội dung của quản lý nguồn nước”. Việc quản lý nguồn nước trong SXNN cũng là một trong các hoạt động quản lý nguồn nước, bao gồm ca quản lý HTCTTL. Bên cạnh đó, nó cũng bao gồm một tập hợp rất đa dạng về các vấn đề công nghệ, hành vi xã hội của cộng đồng nông thôn, hạn chế kinh tế, luật pháp và thé chế.
Vai trò của quản lý nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp Nước là nguyên liệu đầu vào quan trọng cho SXNN và đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với an ninh lương thực. Tưới nước được định nghĩa là việc sử dụng các CTTL nhân tạo đưa nước vào đất trồng trọt nhằm mục đích cung cấp các yêu cầu về nước cần thiết cho mỗi loại cây trồng. Các kế hoạch điều tiết, giám sát cùng với các chính sách pháp lý là căn cứ để nguồn nước được quản lý hiệu quả trong nông nghiệp. Vì vậy, quản lý nguồn nước có vai trò quan trọng trong SXNN nhằm: - Mở rộng diện tích đất nông nghiệp nhờ tưới tiêu chủ động.
Nhờ có HTTL, có thé dẫn nước tới những khu vực khó khăn về nước tưới tiêu cho SXNN như vùng núi cao, đồng thời có thê khắc phục được tình trạng khô hạn kéo dài. - Tăng năng suất cây trồng và chất lượng của nông sản, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng có giá trị về kinh tế cao hơn. Cho phép nông dân có thê trồng các loại rau màu, cây trái mùa. Ở một số vùng có khí hậu thích hợp, việc tưới tiêu cho phép người nông dân trồng được ba hoặc bốn vụ trong một năm.
Chủ động căn chỉnh kế hoạch canh tác đúng thời vụ, do đó tối ưu hóa các điều kiện thị trường. - Quản lý tốt nguồn nước nhằm cung cấp đầy đủ và kịp thời cho sản xuất nông nghiệp, tiêu nước nhanh tránh gây thiệt hại đáng tiếc cho cây trồng và vật nuôi. Đảm bảo nguồn nước không bị lãng phí, thất thoát, rò ri và từ đó tiết kiệm nguồn nhân lực, nguôồn nước hợp lý. Ngoài việc cung cấp day đủ nước tưới còn phải tiêu thoát nước nhanh, ứng phó với BDKH như hạn hán, lũ lụt.
Ở một số khu vực, hệ thong tưới tiêu được sử dụng nhằm tránh tác động sương giá đối với cây trồng. Quan lý tốt nguồn nước trong SXNN chính là việc thực hiện mục tiêu tổng hợp các biện pháp liên quan đến khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước đấu tranh phòng chống những thiệt hại do nước gây ra. Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng và quản lý nguồn nước trong nông nghiệp 1. Các yếu tố bên ngoài Cơ sở hạ tang va tinh dong bộ của HTCTTL: Điều kiện hạ tầng về hệ thống cấp, thoát nước là một yếu tố quan trọng trong quản lý va sử dụng nguồn nước trong SXNN.
Các CTTL đòi hỏi phải được cải thiện đồng bộ, nâng cấp khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả, đúng công suất thiết kế giúp điều tiết hợp ly các nguồn nước từ chỗ thừa sang chỗ thiếu; mùa mưa thì tích được nước, tới mùa khô sử dụng nhằm đảm bảo tối ưu phân bé nước cho SXNN. Diễn biến thời tiết khí hậu thủy văn: Ngành nông nghiệp sử dụng nước tưới rất dễ bị thiệt hại do BĐKH và gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan. Biến đổi khí hậu đang khiến vòng tuần hoàn nước xảy ra nhanh hơn khi nhiệt độ tăng làm tăng tốc độ bay hơi. Tốc độ bay hơi và lượng mưa cao hơn lại không được phân bố đều trên toàn thế giới.
Một số khu vực có thé hứng chịu lượng mưa lớn hơn bình thường, trong khi đó, các khu vực khác có thể phải trải qua han hán, vì vi trí hiện tai của vành đai mưa và sa mạc sẽ thay đổi theo sự BĐKH. Do đó, các hiểm họa liên quan đến nước như hạn hán và lũ lụt đang trở nên nghiêm trọng hơn. Điều này làm ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước, chất lượng hạ tang HTCTTL. Nhu cầu sử dụng nước của từng loại cây, từng khu vực: Mỗi tỉnh, mỗi vùng, nhu cầu dùng nước của mỗi loại cây trồng cũng không đồng nhất, mức tưới cho hoa mau chi bằng 0,3-0,5 mức tưới cho lúa.
Bên cạnh đó, trong từng giai đoạn phát triển của cây trồng, sự có san đủ nước về lượng và đúng về thời gian là yếu tố cơ bản dé giúp cho cây phát triển tốt và cho năng suất lớn nhất. Trong điều kiện cây được tưới đầy đủ nước thì hiệu lực phân bón cao hơn vì phân hữu cơ chỉ phân giải tốt khi có đủ nước. Đây là những điểm quan trọng cần chú ý trong quá trình thực hiện quy hoạch, thiết kế, lập kế hoạch quản lý, khai thác nguồn nước cho SXNN, đồng thời xác định nhu cầu dùng nước cho cây trồng ở vùng đặc thù. Sự phát triển KT-XH: Quá trình tăng trưởng kinh tế làm cho các HTCTTL bị xâm phạm; nguồn nước cạnh tranh do yêu cầu sử dụng nước của các lĩnh vực kinh tế khác như phát điện, công nghiệp.
Đồng thời 6 nhiễm làm nguồn nước trong hệ thống CTTL cũng chịu anh hưởng nặng nề. Môi trường pháp lý: Hệ thông các chính sách, khung pháp lý về quản lý nguồn nước khi được hoàn thiện và đưa vào thực tiễn sẽ là cơ sở giúp cho việc sử dụng nước có hiệu quả. Các công cụ kinh tế giúp phát huy tối đa các tác dụng hướng đến thay đổi hành vi của từng đối tượng sử dụng nước một cách bền vững, nhằm thu hồi được tất cả giá tri của tài nguyên. Công tác tuyên truyền và giáo dục cho người dùng nước được coi là một yếu tô cốt lõi có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý nước trong SXNN.
Các yếu tố bên trong Nguon nhân lực: Năng lực hệ thống cán bộ là rất cần thiết đối với quản lý, điều hành các công trình nói chung cũng như các CTTL nói riêng. Đội ngũ cán bộ kỹ thuật có tác động đến hiệu quả của CTTL gồm: Áp dụng KH-CN vào sản xuất (tưới tiêu, tự chảy hay tưới tiêu bằng động lực), khả năng kiểm soát và thích ứng với những thay đổi của điều kiện tự nhiên, lập kế hoạch và giám soát các hoạt động tưới tiêu.