MỞ ĐẦU Các loài SVNLXH là mối đe dọa đứng hàng thứ hai đối với các HST tự nhiên và ĐDSH bản địa (“Invasive plants pose a threat to our native environment and are recognized globally as the second greatest threat to biodiversity. SVNLXH gây ra những hậu quả lâu dài cho các HST, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế.Theo nghiên cứu của IUCN (2004), hàng năm những chi phí cho phòng chống các loài SVNLXH ở trên thế giới ƣớc tính giá trị đạt khoảng 400. Thế nhƣng trên thực tế, ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng, tình hình SVNLXH vẫn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, chƣa có các nghiên cứu, điều tra đầy đủ nhằm đánh giá tình hình xâm nhập của các sinh vật lạ.Đặc biệt, chƣa có nghiên cứu nào về các loài côn trùng ngoại lai xâm hại.Trong khi đó, côn trùng là đối tƣợng gây hại có ảnh hƣởng trực tiếp đến nền sản xuất nông nghiệp cũng nhƣ lâm nghiệp – ngành kinh tế quan trọng ở Việt Nam.Vì vậy, đề tài luận văn: “Kiểm kê tình hình phân bố, đánh giá công tác quản lý các loài côn trùng ngoại lai ở hai huyện Mỹ Đức và Sóc Sơn, Hà Nội”đƣợc thực hiện nhằm các mục tiêu sau: - Bƣớc đầu tiếp cận và điều tra về tình hình gây hại của các loài côn trùng ngoại lai tại hai huyện Mỹ Đức và Sóc Sơn, Hà Nội - Xây dựng danh sách một số loài côn trùng ngoại lai có mặt tại khu vực nghiên cứu. - Đánh giá và đề xuất các biện pháp quản lý côn trùng ngoại lai tại hai huyện Mỹ Đức và Sóc Sơn, Hà Nội.
1 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SINH VẬT NGOẠI LAI VÀ CÔN TRÙNG NGOẠI LAI 1. Định nghĩa về sinh vật ngoại lai Luật đa dạng sinh học đƣợc quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 đã định nghĩa nhƣ sau : “Loài ngoại lai là loài loài sinhvật xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn không phải là môi trƣờng sống tự nhiên của chúng”. Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều định nghĩa về sinh vật ngọai lai.Trong đó có một số định nghĩa tiêu biểu sau: Theo NARO,2009: “ Loài ngoại lai hay SVNL là những sinh vật đã được du nhập có chủ đích hay không chủ đích đến một địa phương, vùng miền mà nơi đó không phải là vùng phân bố tự nhiên của nó”.
Theo Chenje và nnk(2003): “Ngoại lai” nghĩa là không phải bản địa, đối với sinh vật là loài đƣợc du nhập ngẫu nhiên hoặc có chủ đích. Thuật ngữ đồng nghĩa là “loài không bản địa” thể hiện chính xác hơn và là thuật ngữ đƣợc đánh giá là thân thiện hơn. Một định nghĩa khác: “Loài SVNL (đối với một HST cụ thể) là bất kì loài nào, kể cả cây, con của nó không phải là bẩm sinh (bản địa) của HST đó”[]. Vào năm 2010, Sujay và nnk đã định nghĩa : “SVNL là những loài không phải bản địa hay những loài gặp ở ngoài tự nhiên và có tiềm năng phát triển”.
Theo Công ƣớc quốc tế về ĐDSH(CBD) loài “ngoại lai” là những loài , phân loài hay đơn vị phân loại thấp hơn đƣợc di nhập khỏi vùng phân bố tự nhiên của chúng, kể cả các bộ phận bất kỳ của sinh vật nhƣ các giao tử (gametes), hạt thực vật, trứng động vật hay chồi mầm của những loài này có thể sống sót và sau đó sinh sản đƣợc. Năm 2003, IUCN cũng đƣa ra một định nghĩa về SVNL. So với định nghĩa của công ƣớc quốc tế về ĐDSH, sự khác nhau là không đáng kể, cụ thể nhƣ sau: “SVNL là một loài, phân loài hoặc một bậc phân loại (taxon) thấp hơn, bất kể một 2 z bộ phận nào đó của sinh vật như giao tử hoặc chồi mầm có khả năng sống sót và sau đó sinh sản được, xuất hiện từ bên ngoài vùng phân bố tự nhiên trước đây hoặc hiện nay và phạm vi phát tán tự nhiên của chúng” Từ các định nghĩa đã nêu có thể hiểu một cách khái quát, SVNL là một bậc phân loại(taxon) bất kỳ, xuất hiện từ bên ngoài vùng phân bố tự nhiên trƣớc đây hoặc hiện nay. Con đƣờng du nhập của sinh vật ngoại lai 1.
Phát tán tự nhiên SVNL du nhập theo con đƣờng phát tán tự nhiên chủ yếu nhờ các yếu tố sau đây: dòng nƣớc, gió bão, sinh vật di chuyển, di cƣ. Các yếu tố này đã đem các loài sinh vật từ nơi này đến nơi khác, rồi các loài đó thích nghi đƣợc với điều kiện sống mới. Thí dụ, chim có thể tự bay hoặc bị thổi theo gió bão đến nơi ở mới. Một số loài thực vật có thể di chuyển nhờ gió do cấu trúc thích nghi đặc biệt của hoa, quả hoặc trôi theo dòng nƣớc.
Sự phát tán tự nhiên có thể đóng vai trò quan trọng trong sự lan truyền sau đó của những SVNL vừa du nhập vào một vùng lãnh thổ hay một quốc gia nào đó. Nhiều loài sinh vật có kích thƣớc nhỏ bé (các loài côn trùng cánh vẩy nhỏ, rệp muội, rầy v.v…) có thể bị mang theo gió một khoảng cách khá xa. Con trƣởng thành của sâu hồng đục quả bong tìm thấy ở độ cao 1km trên không trung từ Mêhico sang Hoa kỳ. Bọ cánh cứng sọc hại khoai tây cũng đƣợc di chuyển nhờ gió.
Loài rệp muội và loài bọ xít không có ở bang Minnesota (Hoa Kỳ), nhƣng sau trận gió mạnh ngày 04 tháng 05 năm 1959 ngƣời ta đã tìm thấy chúng ở bang này. Nhiều loài dịch hại có cấu tạo thích nghi để phát tán nhờ gió.Ví dụ, sâu non của một số loài cánh vẩy có lông rất dài hoặc chúng có thể nhả tơ để di chuyển nhờ gió. Sâu non của một số loài sâu róm đã di chuyển theo kiểu này đến khoảng cách khá xa (Iakhontov,1969) SVNL có thể phát tán theo dòng nƣớc. Cây mai dƣơng còn gọi là trinh nữ thân gỗ, trinh nữ đầm lầy(Mimosa pigra) có thể xem là một ví dụ điển hình phát tán theodòng nƣớc.
Quả của cây mai dƣơng có cấu tạo mỏng dẹt, khi quả chín đã tách thành khoang nhỏ. Mỗi khoang chứa 1 hạt, khi rơi xuống nƣớc, hạt nổi trên mặt 3 z nƣớc và trôi theo dòng nƣớc đi khắp nơi một cách dễ dàng nhờ mặt ngoài vỏ có nhiều lông cứng. Điều này có thể quan sát đƣợc trên kênh rạch Đồng bằng sông Cửu Long vào mùa lũ. Có thể có 2 cách du nhập sau đây : 1.
Du nhập có chủ đích Trƣờng hợp du nhập có chủ đích là do những ƣu tiên về lợi ích phát triển kinh tế, môi trƣờng và nhu cầu xã hội. Những ngƣời đi du lịch, các nhà nghiên cứu khoa học, những ngƣời yêu thiên nhiên thích sƣu tầm các loài sinh vật lạ v.v… đã mang theo hoặc đƣa về những SVNL nhằm thỏa mãn các mục đích khác nhau của cuộc sống nhƣ làm thức ăn, sƣu tập nguồn gen giống, sƣu tập mẫu vật mới v.v… Đến nay, có rất nhiều loài sinh vật đã đƣợc du nhập vào một lãnh thổ, một quốc gia,phục vụ cho các mục đích khác nhau.Kiểu du nhập SVNL này gọi là sự du nhập có chủ đích (hay sự xâm nhập có chủ đích).Du nhập có chủ đích đƣợc chia làm 2 loại là du nhập có chủ đích đƣợc phép và du nhập có chủ đích không đƣợc phép. Du nhập có chủ đích được phép Đây là việc nhập khẩu các loài sinh vật (giống cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật, nấm v.v…) phục vụ các mục đích kinh tế, bảo vệ môi trƣờng, làm cảnh, giải trí v.v… Việc du nhập này có kế hoạch và đƣợc sự cho phép của các cơ quan có thẩm quyền.Thí dụ, cá Lates niloicus đƣợc du nhập vào hồ Victoria vào thập niên 1950 để cải thiện năng suất cá của hồ này (NARO,2009). Một số loài sinh vật du nhập về đƣợc sử dụng hạn chế, tức là đƣa vào các vƣờn thực vật, vƣờn thú, vƣờn tự nhân nuôi làm cảnh hoặc du nhập để nghiên cứu.Những loài sinh vật này không đƣợc phóng thả ra tạo điều kiện tự nhiên hoang dã, chỉ đƣợc nuôi trồng trong điều kiện hạn chế.Tuy nhiên, không loại trừ có thể một số cá thể “trốn thoát” đƣợc ra môi trƣờng bên ngoài.
Bằng chứng là có một số trƣờng hợp sinh vật có chủ đích đƣợc phép trở thành loài xâm lấn.Ví dụ, một loài cây trồng đƣợc du nhập nhằm đa dạng hóa cây trồng nông nghiệp.Tuy nhiên, loài ngoại lai này trở thành nguy cơ đe dọa ĐDSH bản địa khi nó thích nghi với điều kiện tự nhiên và xâm nhập vào các vùng bảo tồn, 4 z xâm lấn các cánh đồng trồng cây nông nghiệp. Thí dụ, cỏ Festuca arundinacea có nguồn gốc châu Âu đƣợc trồng nhƣ cỏ chăn nuôi ở Bắc Mỹ. Sau này khi thích nghi đƣợc với điều kiện tự nhiên, loài cỏ này đã trở thành loài xâm lấn các vùng thảo nguyên thay thế quần xã cỏ tự nhiên bản địa rất đa dạng (Wittenberg và NNK,2001). Một số ví dụ khác là thực vật ngoại lai du nhập phục vụ lâm nghiệp.Việc du nhập cây lâm nghiệp cũng tƣơng tự nhƣ du nhập cây trồng nông nghiệp đƣợc chính phủ các quốc gia quan tâm.Tuy nhiên không ít cây lâm nghiệp thân gỗ lại trở thành loài SVNLXH.
Những loài thân gỗ ngoại lai du nhập đã tạo lập quần thể, lan truyền trong sinh cảnh tự nhiên thay thế hệ thực vật bản địa. Thí dụ, các loài thông (Pinus), keo (Acacia), bạch đàn (Eucalyptus) ở Nam Phi là những loài quan trọng sinh lợi cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, nhƣng chúng chúng cũng là sự đe dọa thực sự (nhƣ những loài thực vật ngoại lai xâm hại) đối với các khu bảo tồn thiên nhiên và sự cung cấp nƣớc ở những quốc gia thiếu nƣớc (Wittenberg và nnk, 2001). Một số ví dụ khác. Năm 1947, Thái Lan nhập cây mai dƣơng từ Indonexia về để trồng làm cây phân xanh, chống xói mòn đất.
Đến năm 1982 cây mai dƣơng bắt đầu lan rộng, đến nay trở thành loài xâm lấn nguy hiểm ở Thái Lan, phân bố ở hầu hết các tỉnh của Thái Lan (Roberg, 1982; Suasa_ard và nnk,2004). Loài cây Cytisus scoparius là loài bản địa ở châu Âu, đã đƣợc du nhập vào Bắc Mỹ với mục đích chống xói mòn và ổn định cồn cát. Nhƣng loài thực vật này hiện nay đã xâm lấn hơn 2 triệu mẫu Anh đồng cỏ, trong cây bụi và rừng tán mở rộng ở các bang phía Tây Hoa Kỳ. Loài cây này đã đe dọa cuộc sống con ngƣời, vật nuôi, những thực vật bản địa ở những vùng chúng xâm lấn.
Mặt khác loài cây này dễ bắt lửa và cháy mạnh, do đó dễ gây hỏa hoạn cho rừng.