ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá cho đời sống của con người. Tuy nhiên trong những năm gần đây, sự suy giảm tài nguyên rừng đang diễn ra hết sức nghiêm trọng đã và đang trở thành mối quan tâm của toàn thế giới. Người ta hiểu được rằng mất rừng chính là nguyên nhân quan trọng nhất của sự biến đổi khí hậu và giảm sút đa dạng sinh học làm gia tăng hiệu ứng nhà kính, những hiện tượng mất rừng đang đe dọa sự tồn tại lâu dài của sự sống trên toàn hành tinh. Rừng có vai trò rất quan trọng trong việc giữ nước, điều tiết dòng chảy, hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn đất, điều hoà khí hậu và cung cấp lâm sản.
Rừng là một tài nguyên, một nhân tố đảm bảo cho sự phát triển ổn định và vững chắc của đất nước. Mặc dù vậy, cho đến nay con người chưa hiểu hết tầm quan trọng của rừng, tình trạng phá rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản bừa bãi, dẫn đến mất rừng làm ảnh hưởng tời đời sống của con người cũng như sự phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng. Mất rừng hiện nay đang trở thành vấn đề quan trọng ở Việt Nam. Diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp về diện tích, mà còn thể hiện ở sự suy giảm về trữ lượng chất lượng rừng và cạn kiệt các nguần gen động thực vật có giá trị.
Trong những năm gần đây nhiều thiên tai xảy ra như bão, lũ lụt, sạt lở làm thiệt hại về người và tiền của, đã ảnh hưởng tới cuộc sống của nhiều địa phương. Đặc biệt thiên tai xảy ra là do con người như phá rừng, cháy rừng… Hiện tại rừng của tỉnh Điện Biên nói chung, huyện Mường Ảng nói riêng chiếm một vị trí chiến lược, hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng của khu vực; đặc biệt huyện Mường Ảng có diện tích rừng 13.947,4ha, địa hình rừng núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, nhân dân vùng cao (Dân tộc Mông, Thái) sống trong và ven rừng, cuộc sống chủ yêu phụ thuộc vào canh tác nương dẫy, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, ý thức bảo vệ rừng chưa cao. c 2 Tình trạng phá rừng, khai thác, mua, bán, vận chuyển, kinh doanh lâm sản trái pháp luật vẫn còn xảy ra, nhất là tình trạng phá rừng làm nương của nhân dân các bản vùng cao, nhiều diện tích rừng bị mất, đồng thời theo phong tục tập quán của bà con làm nương luân canh và canh tác trên đất dốc, dẫn đến nhiều diện tích đất trống đồi núi chọc bị bỏ hoang. Ngược lại tại các bản vùng thấp như trước đây người dân phá rừng làm nương, canh tác chủ yếu là làm nương rãy, nhưng hiện tại do nhận thức của người dân việc canh tác nương rãy không hiệu quả và phát triển kinh tế nên người dân đã đi làm các công ty, doanh nghiệp.
Do đó nhiều diện tích rừng đã được phục hồi và còn rất nhiều diện tích đất trống bị bỏ hoang, dẫn đến hàng năm các diện tích đó không được đầu tư, đồng thời ý thức của một số bà con đã đốt để lấy cỏ chăn thả ra xúc dẫn đến cháy rừng làm thiệt hại rất nhiều diện tích rừng. Trong khi đó một số chính quyền địa phương chưa quan tâm hết mức trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, coi việc bảo vệ rừng là trách nhiệm của lực lượng Kiểm lâm. Trong khi biên chế cho lực lượng Kiểm lâm mỏng, do vậy việc tuyên truyền Luật lâm nghiệp cũng như các văn bản trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế, việc tuần tra, kiểm soát nhằm phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm gặp rất nhiều khó khăn. Đại đa số các chủ rừng, tổ quản lý bảo vệ rừng chưa xây dựng được phương án bảo vệ rừng mà Kiểm lâm địa bàn phải làm thay, chưa thường xuyên tuần tra rừng nhằm phát hiện hành vi vi phạm mà hầu hết đều trông chờ vào các cơ quan chức năng và UBND xã.
Chính sách cho chủ rừng chưa được quan tâm đúng mức, chỉ trong phạm vi hỗ trợ và dịch vụ môi trường rừng, nên không khuyến khích được người dân phát triển kinh tế từ rừng một cách ổn định, lâu dài. Vì vậy việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng của huyện Mường Ảng cần có sự vào cuộc của các cấp, các ngành và mọi tầng lớp nhân dân, nhằm thúc đẩy sự phát triển rừng về cả chất và lượng, từng bước đưa độ che phủ của huyện ngày càng nâng lên. c 3 Trước tình hình hiện nay và chức trách, nhiệm vụ được giao cần có các giải pháp phù hợp để phát triển rừng của huyện. Do đó, việc nghiên cứu về đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng huyện Mường Ảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu, đánh giá nào một cách toàn diện và hệ thống vấn đề này. Vì vậy, nhằm góp phần bổ sung và hoàn thiện những cơ sở lý luận và tìm ra giải pháp quản lý rừng bền vững trên địa bàn huyện, tôi tiến hành “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên”. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Quản lý bảo vệ rừng là một lĩnh vực tương đối rộng lớn bao gồm hàng loạt các biện pháp quản lý bảo vệ rừng đã và đang được thực hiện, nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước đã được triển khai nhằm bảo vệ và phát triển rừng, như Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm 2017 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng…, các chính sách đầu tư cho lâm nghiệp, biện pháp giao đất, giao rừng, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng… Trước đây, vấn đề quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp chỉ đơn thuần là việc khai thác và sử dụng các sản phẩm từ rừng mà ít hoặc chưa chú trọng đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng cũng như phát huy vai trò của rừng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái. Hiện nay công tác quản lý và sử dụng rừng đều phải dựa trên cơ sở đảm bảo sự phát triển rừng bền vững.
Quản lý rừng bền vững là thực hiện triệt để và đồng bộ các biện pháp nhằm không ngừng phát huy hiệu quả kinh doanh ổn định liên tục, những tác dụng và lợi ích của rừng trên các lĩnh vực khác nhau. Sự phát triển rừng bền vững này phải đảm bảo 3 yếu tố: bền vững về mặt môi trường sinh thái; bền vững về mặt xã hội; bền vững về mặt kinh tế. Nghĩa là phát triển phải đảm bảo lợi ích lâu dài cho con người, tài nguyên sinh vật, môi trường cần phải giữ gìn cho các thế hệ mai sau, thể hiện qua 3 mặt đó là phù hợp về môi trường, có lợi ích về mặt xã hội và đáp ứng về mặt kinh tế. Trong thực tiển để quản lý tốt một khu rừng cần phải xác định được các mối đe dọa ảnh hưởng đến khu rừng đó và tìm ra được các giải pháp can thiệp để làm giảm sự ảnh hưởng bởi những mối đe dọa.
Đây chính là cách tiếp cận c 5 mới trong quản lý tài nguyên rừng, hướng đến phát triển lâm nghiệp bền vững. Với các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ sẽ có các mối đe dọa, tác động lên khu rừng khác nhau như: cháy rừng, khai thác rừng trái phép, chuyển đổi mục đích canh tác, sử dụng rừng, xây dựng các công trình cho phát triển kinh tế, xã hội,… Do đó, các mối đe dọa này cần phải được phân hạng mức độ ảnh hưởng để có các biện pháp xử lý phù hợp. Việc đánh giá các mối đe dọa này đối với một khu rừng không có nghĩa là phải cố để loại bỏ đi những mối đe dọa này. Bởi vì trong nhiều trường hợp ta không thể loại bỏ được như vậy (Primack, 1999).
Việc con người sử dụng cảnh quan là là một thực tế mà chúng ta phải tính đến khi lập kế hoạch bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng. Trong kế hoạch quản lý các khu rừng đặc dụng hay phòng hộ, việc người dân địa phương và du khách sử dụng dịch vụ môi trường rừng và cảnh quan sinh thái cần phải là nội dung trung tâm, kể cả quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển (Mackinnon et al., 1992; Wells and Brandon, 1992; Western et al. Người dân từ ngàn đời nay đã sử dụng các sản phẩm từ rừng, nay họ lại không được phép vào rừng để phục vụ cho nhu cầu mưu sinh cho cuộc sống của họ nữa. Chính vì thế mà sinh ra những mâu thuẫn giữa người dân với các ban quản lý bảo vệ rừng.
Ngày nay người ta càng nhận ra rằng các chiến lược quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học hầu hết đều thiếu mất một điều quan trọng là sự tham gia của người dân địa phương. Lewis và cộng sự (1990) đã khẳng định rằng “Nếu có một bài học kinh nghiệm nào đó có thể rút ra từ những thất bại trong công tác bảo tồn ở Châu Phi thì đó là sự bảo tồn chỉ do chính phủ thực hiện vì cái gọi là lợi ích của người dân địa phương. Cách làm này ít khi thành, đặc biệt ở những nước có nền kinh tế thấp kém. Thay vào đó, việc bảo tồn vì người dân và do người dân thực hiện dưới sự giám sát và cung cấp dịch vụ của nhà nước có thể thúc đẩy mới quan hệ giữa chính quyền và người dân c 6 sống trong vùng có tài nguyên.
Cách tiếp cận này có thể làm giảm các chi phí cho việc thực thi pháp luật và làm tăng các nguồn thu từ khía cạnh khác của công tác quản lý động vật hoang dã, nhờ đó sẽ vừa đáp ứng những yêu cầu của công tác bảo tồn vừa đáp ứng những nhu cầu trước mắt của cộng đồng dân cư. Cách tiếp cận như vậy cũng có ưu điểm nữa là duy trì quyền sở hữu truyền thống và tinh thần trách nhiệm của người dân địa phương đối với tài nguyên rừng. Tuy nhiên, những bằng chứng có tính thuyết phục về mối quan hệ hợp tác như trên vẫn chưa được minh chứng, vì vậy, nó chỉ vẫn mang tính lý thuyết nhiều hơn là thực tiễn”.