Tổng quan nghiên cứu

Thực phẩm có nguồn gốc động vật, đặc biệt là thịt lợn, đóng vai trò chủ lực trong bữa ăn hàng ngày của người dân Việt Nam với sản lượng tiêu thụ đạt hơn 3,7 triệu tấn và tổng đàn lợn cả nước lên tới 29,1 triệu con vào năm 2016. Tuy nhiên, tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn diễn biến phức tạp khi các vụ ngộ độc thực phẩm do vi sinh vật chiếm tỷ lệ từ 50% đến 60% tổng số vụ tai biến hàng năm. Tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang, mạng lưới giết mổ và kinh doanh gia súc tồn tại nhiều rủi ro khi có tới 562 trên tổng số 563 cơ sở giết mổ (chiếm 99,82%) là các hộ nhỏ lẻ nằm rải rác trong khu dân cư và hoàn toàn không có sự giám sát của cơ quan chuyên môn.

Xuất phát từ thực trạng cấp bách đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thú y của tác giả Nguyễn Minh Thắng thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam năm 2017 với đề tài "Nghiên cứu đánh giá hiện trạng ô nhiễm vi sinh vật trong thịt lợn tại một số cơ sở giết mổ, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang" đã được triển khai. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là khảo sát, đánh giá điều kiện vệ sinh thú y tại các cơ sở giết mổ và quầy kinh doanh thịt lợn; đồng thời định lượng mức độ ô nhiễm vi sinh vật trong nguồn nước giết mổ, trên bề mặt thân thịt và thịt lợn thương phẩm.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại các cơ sở giết mổ và chợ truyền thống trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang qua 2 đợt khảo sát vào tháng 7 và tháng 10 năm 2016. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc thiết lập hệ thống dữ liệu thực chứng gồm 110 mẫu phân tích chuyên sâu, làm cơ sở để các cơ quan quản lý ban hành các giải pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu tỷ lệ lây nhiễm chéo vi khuẩn gây bệnh và nâng cao hiệu lực quản lý chuỗi cung ứng thực phẩm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) kết hợp với nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi từ trang trại đến bàn ăn. Khung lý thuyết này chỉ ra rằng chất lượng vi sinh của thịt thương phẩm chịu tác động trực tiếp bởi từng công đoạn: từ vệ sinh chuồng nuôi, quy trình tắm rửa gia súc trước khi hạ thịt, kỹ thuật mổ moi nội tạng, cho đến khâu vận chuyển và bảo quản tại điểm bán lẻ.

Song song đó, đề tài ứng dụng lý thuyết lan truyền vi sinh vật chỉ thị vệ sinh và vi khuẩn gây ngộ độc đường ruột thuộc họ Enterobacteriaceae. Bốn khái niệm chuyên ngành cốt lõi được sử dụng để đánh giá chất lượng sản phẩm bao gồm:

  • Tổng số vi sinh vật hiếu khí (TSVSVHK): Chỉ số phản ánh mức độ nhiễm bẩn chung, tình trạng vệ sinh của cơ sở chế biến và mức độ tươi mới của thịt.
  • Escherichia coli (E. coli): Trực khuẩn gram âm thường trú trong đường tiêu hóa, đóng vai trò là vi sinh vật chỉ thị mức độ nhiễm phân trong nước và thực phẩm.
  • Salmonella spp.: Trực khuẩn nguy hiểm gây viêm dạ dày ruột cấp tính, nhiễm trùng huyết và ngộ độc thực phẩm diện rộng.
  • Coliforms tổng số: Nhóm vi khuẩn chỉ điểm chất lượng vệ sinh môi trường nước sử dụng trong quá trình giết mổ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát trên tập dữ liệu gồm 110 mẫu được thu thập làm 2 đợt (đợt 1 vào tháng 7/2016 và đợt 2 vào tháng 10/2016). Cơ cấu mẫu phân tích bao gồm: 50 mẫu lau bề mặt thân thịt (diện tích 400 cm2/mẫu) tại 5 cơ sở giết mổ, 10 mẫu nước phục vụ giết mổ (dung tích 500 ml/mẫu), và 50 mẫu thịt nạc tươi sống (khối lượng 0,1 kg/mẫu) lấy tại 5 chợ truyền thống trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng nhằm phản ánh khách quan sự khác biệt giữa mô hình giết mổ tập trung có quản lý và mô hình giết mổ nhỏ lẻ tự phát.

Quy trình lấy mẫu tuân thủ nghiêm ngặt các quy chuẩn: mẫu thịt theo QCVN 01-04:2009/BNNPTNT và TCVN 4833:2002; mẫu nước theo TCVN 6663-1:2011, TCVN 6663-3:2008 và TCVN 6663-5:2009. Toàn bộ mẫu được kiểm nghiệm tại Phòng thử nghiệm Nông nghiệp đạt chuẩn ISO 17025 (LAS-NN 80) thuộc Cơ quan Thú y vùng II.

Phương pháp phân tích vi sinh vật được lựa chọn dựa trên độ tin cậy và sự phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia: TCVN 4884-1:2015 định lượng TSVSVHK, TCVN 7924-2:2008 định lượng E. coli, TCVN 4829:2005 phát hiện Salmonella, và TCVN 6187-2:1996 xác định Coliforms/E. coli trong nước bằng phương pháp đếm số có xác suất lớn nhất (MPN). Kết quả kiểm nghiệm được đối chiếu trực tiếp với giới hạn cho phép tại QCVN 8-3:2012/BYT và QCVN 01:2009/BYT. Việc đánh giá điều kiện vệ sinh thú y dựa trên Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT và Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT, dữ liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về điều kiện vệ sinh thú y tại cơ sở giết mổ: Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có 563 cơ sở và điểm giết mổ nhưng chỉ có 1 cơ sở tập trung hỗn hợp (chiếm 0,18%), còn lại 562 cơ sở là các điểm nhỏ lẻ (chiếm 99,82%) không được cơ quan thú y kiểm soát và 100% không được giám sát dịch bệnh. Khi đánh giá 5 cơ sở giết mổ đại diện, kết quả cho thấy chỉ có 1 cơ sở đạt loại B (chiếm 20%), 4 cơ sở còn lại đều xếp loại C (chiếm 80%) do không đáp ứng yêu cầu về quy trình sản xuất một chiều và cơ sở vật chất. Ngược lại, tại 5 chợ kinh doanh thịt lợn, 100% quầy sạp được xếp loại B.

Thứ hai, về chất lượng nước phục vụ giết mổ: Kiểm tra 10 mẫu nước tại 5 cơ sở giết mổ cho thấy có 5/10 mẫu (chiếm 50%) không đạt chỉ tiêu Coliforms và 4/10 mẫu (chiếm 40%) không đạt chỉ tiêu E. coli theo QCVN 01:2009/BYT. Ở đợt 1 có 3/5 cơ sở (chiếm 60%) có mẫu nước không đạt yêu cầu; sau khi được khuyến cáo khắc phục, tỷ lệ cơ sở không đạt ở đợt 2 đã giảm xuống còn 2/5 cơ sở (chiếm 40%) đối với Coliforms và 1/5 cơ sở (chiếm 20%) đối với E. coli.

Thứ ba, về mức độ ô nhiễm vi sinh vật trên bề mặt thân thịt tại cơ sở giết mổ: Trong tổng số 50 mẫu lau thân thịt, 100% số mẫu ở cả 2 đợt đều đạt yêu cầu về TSVSVHK (nằm trong giới hạn cho phép từ 5x10^5 đến 5x10^6 CFU/cm2 theo QCVN 8-3:2012/BYT). Đối với chỉ tiêu Salmonella, đợt 1 ghi nhận 3/25 mẫu dương tính (chiếm 12%) tại 2 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ; đợt 2 không phát hiện mẫu nào nhiễm khuẩn (0/25 mẫu). Riêng cơ sở giết mổ tập trung đạt loại B không phát hiện Salmonella ở cả 2 đợt kiểm tra.

Thứ tư, về chất lượng thịt lợn tươi sống tại điểm kinh doanh: Kiểm nghiệm 50 mẫu thịt nạc tại 5 chợ phát hiện 3/50 mẫu (chiếm 6%) dương tính với Salmonella và 1/50 mẫu (chiếm 2%) có mật độ E. coli vượt quá giới hạn trên cho phép (> 5x10^3 CFU/g).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng ô nhiễm Salmonella và E. coli tại các cơ sở nhỏ lẻ xuất phát từ tập quán giết mổ trực tiếp trên nền sàn bê tông nứt vỡ, đọng nước (100% cơ sở khảo sát thực hiện). Việc không tắm rửa lợn trước khi giết mổ làm lưu lại chất thải trên da, kết hợp với thao tác mổ moi lòng thủ công dễ làm rách ruột, khiến vi sinh vật từ đường tiêu hóa tràn ra thân thịt. Dụng cụ giết mổ như dao, thớt dùng chung cho mọi công đoạn mà không qua khử trùng nước nóng hoặc hóa chất chuyên dụng. Hơn nữa, việc sử dụng nước giếng khoan chưa xử lý hoặc hệ thống đường ống chứa cặn bẩn đã trực tiếp truyền vi khuẩn vào thịt trong quá trình rửa. Quá trình vận chuyển thịt từ lò mổ về chợ hoàn toàn bằng xe máy, thịt để trần hoặc che đậy bằng khăn bẩn khiến nguy cơ nhiễm bụi và vi khuẩn từ không khí tăng cao.

So sánh với các nghiên cứu trước đây, thực trạng tại Tuyên Quang cho thấy những chuyển biến nhất định nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn. Tỷ lệ mẫu thịt vi phạm tại Tuyên Quang thấp hơn so với báo cáo năm 2007 của Trung tâm Kiểm tra Vệ sinh Thú y Trung ương I (nơi ghi nhận 64,89% mẫu thịt lợn nhiễm vi sinh vật) và kết quả giám sát năm 2013 tại 4 tỉnh đồng bằng sông Hồng (với 58,33% mẫu thịt lợn nhiễm E. coli vượt ngưỡng). Tuy nhiên, sự xuất hiện của Salmonella (12% trên thân thịt ở đợt 1 và 6% tại chợ) là mối đe dọa trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng.

Để hỗ trợ theo dõi trực quan, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn thông qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ nhiễm Salmonella và E. coli giữa đợt 1 và đợt 2 tại các cơ sở giết mổ, kết hợp bảng ma trận phân hạng điều kiện vệ sinh thú y nhằm làm nổi bật sự vượt trội về độ an toàn của cơ sở giết mổ tập trung so với các hộ nhỏ lẻ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát rủi ro và nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong chuỗi cung ứng thịt lợn tại địa phương, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Đẩy nhanh quy hoạch và chuyển đổi mô hình giết mổ tập trung: Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang và chính quyền các cấp cần thực thi quyết liệt Đề án theo Quyết định 1267/QĐ-BNN-TY, phấn đấu đến năm 2020 đưa tối thiểu 70% sản lượng thịt tiêu thụ vào giết mổ tại các cơ sở tập trung đạt chuẩn loại B trở lên; kiên quyết đình chỉ hoạt động và giải tỏa các điểm giết mổ tự phát loại C trong khu dân cư.
  2. Nâng cấp cơ sở vật chất và chuẩn hóa kỹ thuật giết mổ: Các chủ cơ sở giết mổ cần đầu tư cải tạo nền sàn, lắp đặt giá treo hoặc bàn mổ nâng cao cách mặt sàn tối thiểu 30-50 cm, bố trí mặt bằng sản xuất theo nguyên tắc 1 chiều tách biệt giữa khu bẩn và khu sạch; đồng thời lắp đặt hệ thống lọc nước đạt chuẩn QCVN 01:2009/BYT và thay thế nguồn nước giếng khoan ô nhiễm trước quý IV năm 2017.
  3. Tăng cường thanh tra và kiểm soát giết mổ định kỳ: Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Tuyên Quang cần bố trí cán bộ thực hiện kiểm soát giết mổ thường xuyên, nâng tỷ lệ gia súc được đóng dấu kiểm dịch từ dưới 1% lên mức 80% trong giai đoạn 2017-2018; đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vận chuyển thịt bằng xe máy không có thùng kín chuyên dụng.
  4. Chuẩn hóa điều kiện quầy sạp tại các chợ truyền thống: Ban quản lý các chợ và hộ kinh doanh cần thay thế 100% mặt bàn gỗ bằng bàn inox không gỉ, thực hiện khử trùng định kỳ bằng hóa chất Han-Iodine hàng tuần và trang bị màng che chắn côn trùng, hướng tới mục tiêu 100% cơ sở kinh doanh giữ vững chứng nhận an toàn thực phẩm theo Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại nguồn tài liệu giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và Chi cục Thú y: Cung cấp bức tranh thực trạng về 563 điểm giết mổ và bằng chứng khoa học để xây dựng chính sách quy hoạch lò mổ tập trung, phân bổ nguồn lực kiểm dịch và hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật địa phương.
  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Thú y, Công nghệ thực phẩm: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp bố trí thí nghiệm, kỹ thuật lấy mẫu bề mặt thân thịt (TCVN 4833:2002) và quy trình định lượng vi sinh vật theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 17025.
  3. Chủ cơ sở giết mổ và doanh nghiệp phân phối thực phẩm: Nắm vững các điểm tới hạn gây lây nhiễm chéo vi sinh vật (Salmonella, E. coli), từ đó áp dụng các biện pháp cải tiến quy trình vệ sinh nhà xưởng, làm sạch nguồn nước và thực hành sản xuất tốt (GMP).
  4. Ban quản lý chợ và tiểu thương kinh doanh thịt tươi sống: Tiếp cận các tiêu chuẩn vệ sinh thú y theo Thông tư 45/2014/TT-BNNPTNT để nâng cấp trang thiết bị quầy sạp, sử dụng dụng cụ chứa đựng hợp vệ sinh và bảo quản thịt đúng cách nhằm bảo vệ uy tín thương mại.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tỷ lệ ô nhiễm vi khuẩn Salmonella trên thịt lợn tại Tuyên Quang là bao nhiêu? Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ nhiễm Salmonella trên bề mặt thân thịt ở đợt 1 là 12% (3/25 mẫu) tại các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ và giảm xuống 0% ở đợt 2 sau can thiệp vệ sinh. Tại các chợ truyền thống, tỷ lệ mẫu thịt nạc dương tính với Salmonella chiếm 6% (3/50 mẫu).

  2. Tại sao nguồn nước tại các cơ sở giết mổ lại có tỷ lệ nhiễm vi sinh vật cao? Kiểm tra 10 mẫu nước cho thấy 50% mẫu nhiễm Coliforms và 40% mẫu nhiễm E. coli vượt giới hạn QCVN 01:2009/BYT. Nguyên nhân do các cơ sở sử dụng nước giếng khoan chưa qua lọc khử trùng hoặc hệ thống bể chứa, đường ống lâu ngày không súc rửa, khiến vi khuẩn xâm nhập từ đầu vòi dẫn.

  3. Yếu tố nào trong khâu giết mổ gây ô nhiễm vi sinh vật nghiêm trọng nhất? Tập quán giết mổ trực tiếp trên nền sàn xi măng nứt vỡ, không tắm rửa lợn trước khi mổ và kỹ thuật mổ moi lòng thủ công làm rách ruột là các nguyên nhân hàng đầu khiến vi khuẩn từ phân và môi trường lan truyền vào thịt. Dùng chung một con dao cho toàn bộ quy trình cũng gây lây nhiễm chéo.

  4. Cơ sở giết mổ tập trung mang lại ưu thế gì so với cơ sở giết mổ nhỏ lẻ? Cơ sở giết mổ tập trung duy nhất tại Tuyên Quang đạt chuẩn loại B nhờ có sự kiểm soát của cán bộ thú y, cơ sở vật chất đồng bộ và quy trình tiêu độc khử trùng bằng Han-Iodine, giúp 100% mẫu thân thịt không phát hiện Salmonella qua cả 2 đợt kiểm tra.

  5. Cần thực hiện biện pháp gì để giảm thiểu vi khuẩn tại quầy kinh doanh thịt ở chợ? Tiểu thương cần thay thế toàn bộ bàn gỗ bằng bàn inox không gỉ, che chắn quầy hàng tránh ruồi nhặng, khử trùng dụng cụ cắt tỉa thường xuyên và vận chuyển thịt từ lò mổ về chợ bằng thùng chứa chuyên dụng có nắp đậy thay vì chở hở trên xe máy.

Kết luận

  • Đóng góp khoa học cốt lõi: Luận văn đã cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện gồm 110 mẫu xét nghiệm, làm rõ hiện trạng ô nhiễm vi sinh vật trong thịt lợn tại Tuyên Quang và khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa hạ tầng giết mổ loại C với tỷ lệ ô nhiễm Salmonella (12%) và nguồn nước không đạt chuẩn (50%).
  • Bằng chứng thực tiễn chỉ ra rằng mô hình giết mổ tập trung có kiểm soát thú y giúp loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn Salmonella trên thân thịt so với các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ tự phát.
  • Báo động thực trạng 99,82% cơ sở giết mổ trên địa bàn tỉnh hoạt động phân tán ngoài tầm kiểm soát của cơ quan chuyên môn, tạo cơ sở pháp lý và thực tiễn để chính quyền địa phương siết chặt công tác quản lý.
  • Lộ trình thực hiện giai đoạn 2017-2020: Đẩy mạnh triển khai Đề án 1267/QĐ-BNN-TY, nâng tỷ lệ kiểm soát giết mổ lên trên 80% và chuẩn hóa 100% nguồn nước giết mổ đạt chuẩn QCVN 01:2009/BYT.
  • Kêu gọi hành động: Các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và các cơ sở sản xuất kinh doanh cần phối hợp đồng bộ để chuyển đổi sang mô hình giết mổ tập trung, bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.