Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chăn nuôi gia súc, gia cầm là một trong hai phân ngành nòng cốt của sản xuất nông nghiệp Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh thực phẩm và tạo nguồn thu nhập cho cư dân nông thôn. Tại xã Hoàng Lâu, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc – địa phương có tỷ lệ dân số nông thôn chiếm tới 90% – ngành chăn nuôi ngày càng giữ vị trí chủ đạo trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi tại đây chủ yếu vẫn duy trì ở quy mô nông hộ nhỏ lẻ, chuồng trại nằm xen kẽ trong các khu dân cư đông đúc. Sự gia tăng đàn vật nuôi cùng với mật độ dân cư cao đã làm gia tăng áp lực chất thải, gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, phát sinh mùi hôi, bồi lắng kênh mương, làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng.
Trước tình trạng đó, các dự án tài trợ xây dựng công trình khí sinh học (hầm biogas) đã được triển khai nhằm giảm thiểu ô nhiễm. Tuy vậy, thực tế quản lý, vận hành và khai thác hiệu quả hệ thống hầm biogas tại các nông hộ còn gặp nhiều bất cập, nguy cơ gây ô nhiễm thứ cấp từ nước thải và bã thải sau biogas vẫn tồn tại. Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường do nước thải chăn nuôi gia súc và hiệu quả của mô hình hầm biogas trên địa bàn xã Hoàng Lâu, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc" của tác giả Chu Thị Hương Ly (ngành Khoa học Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2014) được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn trên.
Khóa luận xác định 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Đánh giá tổng quan tình hình ô nhiễm môi trường do nước thải chăn nuôi gia súc trên địa bàn xã Hoàng Lâu hiện nay; xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý môi trường tại địa phương.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế – môi trường, lượng hóa lợi ích và chi phí mà mô hình hầm biogas mang lại cho các hộ gia đình.
- Đề xuất các giải pháp cải thiện chất lượng môi trường chăn nuôi, sử dụng tiết kiệm năng lượng, nhân rộng hệ thống hầm biogas và nâng cao nhận thức của người dân trong quản lý, vận hành hầm biogas.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ chăn nuôi gia súc và mô hình hầm biogas quy mô hộ gia đình trên địa bàn xã Hoàng Lâu.
- Phạm vi không gian: Địa bàn 10 thôn thuộc xã Hoàng Lâu, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (thôn Thượng, Đoàn Kết, Liên Kết, Lá, Mới, Lau, Da, Vỏ, Đồng Ké, Lực Điền).
- Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu, điều tra và phân tích số liệu thực địa từ ngày 05/05/2014 đến ngày 05/08/2014; các chuỗi số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2001 – 2013.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các nguyên lý xử lý chất thải hữu cơ bằng công nghệ phân hủy kỵ khí (quá trình khí sinh học/biogas). Quá trình phân hủy kỵ khí sinh khối chất thải diễn ra qua 3 giai đoạn chính:
- Giai đoạn thủy phân (tạo axit): Dưới tác dụng của enzyme hydrolase do vi khuẩn tiết ra, các hợp chất polymer hữu cơ (protein, lipid, carbohydrate) bị phân giải thành các hợp chất monomer như amino acid, acid béo, đường đơn, rượu, acid hữu cơ yếu, $H_2$, $H_2O$, $CO_2$, $NH_4^+$, $H_2S$.
- Giai đoạn khử axit (axit hóa): Nhóm vi khuẩn acetogenic chuyển hóa các acid hữu cơ và rượu thành acid acetic ($CH_3COOH$), $H_2$, $CO_2$.
- Giai đoạn tạo khí metan (metan hóa): Nhóm vi khuẩn methanogenic chuyển hóa acid acetic, $H_2$ và $CO_2$ thành hỗn hợp khí sinh học, trong đó khí metan ($CH_4$) chiếm 50 – 70%, khí cacbonic ($CO_2$) chiếm 30 – 45%, cùng một lượng nhỏ các khí $H_2$, $O_2$, $N_2$, $H_2S$ (0 – 3%).
Cấu tạo kỹ thuật chung của mô hình hầm biogas nông hộ được phân tích gồm 3 bộ phận chính: hệ thống nạp nguyên liệu (máng nạp/ống nạp), hầm phân hủy kỵ khí và bể điều áp (bể thủy lực).
Khung pháp lý được tác giả áp dụng làm căn cứ đối chiếu và đánh giá gồm:
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và Nghị định số 80/2006/NĐ-CP;
- QCVN 40:2011/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp);
- QCVN 05:2009/BTNMT (Chất lượng không khí xung quanh) và QCVN 06:2009/BTNMT (Một số chất độc hại trong không khí xung quanh);
- QCVN 08:2008/BTNMT (Chất lượng nước mặt);
- QCVN 01-15:2010/BNNPTNT (Điều kiện trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học);
- Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn;
- Quyết định số 1443/QĐ-CT và Quyết định số 04/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về hỗ trợ nhân rộng hầm biogas và bảo vệ môi trường nông thôn.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu bàn giấy và thực nghiệm thực địa:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo thống kê, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, hiện trạng môi trường từ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tam Dương, UBND xã Hoàng Lâu và Sở TN&MT tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (dữ liệu sơ cấp): Khảo sát trực tiếp mẫu ngẫu nhiên $n = 100$ hộ chăn nuôi có hầm biogas tại 10 thôn của xã Hoàng Lâu.
- Phương pháp khảo sát, đo đạc và phân tích chất lượng môi trường: Thu thập và phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước thải (pH, TSS, $BOD_5$, COD, Tổng N, Tổng P, Coliform), nước mặt (3 điểm ao tiếp nhận tại xóm Lau: NM1, NM2, NM3) và môi trường không khí xung quanh (5 điểm hộ chăn nuôi: KK8 đến KK12) thực hiện bởi Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích (CBA) và xử lý thống kê: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý, tổng hợp và phân tích dữ liệu.
Nội dung chính theo từng chương
Khóa luận được cấu trúc thành 5 phần chính theo đúng quy chuẩn học thuật của chuyên ngành Khoa học Môi trường:
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh chăn nuôi nông hộ tại xã Hoàng Lâu phát triển mạnh nhưng thiếu quy hoạch đồng bộ, gây ô nhiễm môi trường sống. Phần này xác định rõ 3 mục tiêu nghiên cứu, 3 yêu cầu chuyên môn, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài đối với công tác bảo vệ môi trường tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết toàn diện cơ sở khoa học về công nghệ khí sinh học, cơ chế sinh hóa của quá trình lên men kỵ khí 3 giai đoạn, các yếu tố ảnh hưởng (nhiệt độ, cơ chất dinh dưỡng, thời gian lưu bã), tính chất lý hóa của khí metan ($CH_4$), cacbonic ($CO_2$), hydro sunfua ($H_2S$). Tác giả hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường hiện hành của Việt Nam. Đồng thời, chương 2 điểm cứu bức tranh tổng quan về tình hình chăn nuôi và phế thải chăn nuôi trên thế giới và tại Việt Nam, phân tích tải lượng phát thải phân tươi, nước tiểu và nước rửa chuồng theo từng loài vật nuôi (bò, trâu, lợn, gia cầm), cùng lịch sử phát triển các chương trình dự án biogas (VACVINA, SNV Hà Lan, ADB-QSEAP).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết địa điểm, thời gian thực hiện, đối tượng khảo sát và khung nội dung nghiên cứu. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp qua phiếu điều tra 100 hộ nông dân, các phương pháp lấy mẫu, bảo quản và phân tích chất lượng mẫu nước mặt, nước thải và không khí, phương pháp phân tích kinh tế chi phí – lợi ích và công cụ xử lý dữ liệu thống kê trên máy tính.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung này là trọng tâm của khóa luận, bao gồm 4 mảng phát hiện lớn:
1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội xã Hoàng Lâu
- Xã có tổng diện tích tự nhiên là 664,27 ha, trong đó đất đưa vào khai thác sử dụng chiếm 99,39% (660,25 ha).
- Giai đoạn 2006 – 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 22,82%/năm; thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 10,48 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế năm 2010 dịch chuyển theo hướng tích cực: Nông nghiệp chiếm 36,61%, Công nghiệp – Xây dựng chiếm 35,38%, Thương mại – Dịch vụ chiếm 28,01%.
- Đến năm 2013, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 20.840 triệu đồng. Tổng đàn vật nuôi năm 2013 gồm 114 con trâu, 504 con bò, 5.123 con lợn và 189.892 con gia cầm. Đàn trâu bò giảm mạnh do cơ giới hóa nông nghiệp thay thế sức kéo. Toàn xã chỉ có 2 trang trại đạt tiêu chí kinh tế trang trại, còn lại là chăn nuôi quy mô hộ gia đình.
2. Tải lượng chất thải và thực trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi
Tổng lượng phân phát thải từ chăn nuôi trên địa bàn xã năm 2013 là 9.444,5 tấn (phân lợn chiếm 4.674,74 tấn; bò chiếm 2.759,4 tấn; gia cầm chiếm 1.386,21 tấn; trâu chiếm 624,15 tấn).
Kết quả phân tích mẫu nước thải chăn nuôi lợn tại địa phương cho thấy nồng độ ô nhiễm vượt xa giới hạn cho phép của QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B):
| TT |
Chỉ tiêu phân tích |
Đơn vị |
Giá trị phân tích |
QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B) |
Mức độ vượt chuẩn |
| 1 |
pH |
- |
7,249 |
5,5 – 9 |
Đạt chuẩn |
| 2 |
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) |
mg/l |
1.438,90 |
100 |
Vượt 14,39 lần |
| 3 |
Nhu cầu oxy sinh hóa ($BOD_5$) |
mg/l |
1.084,41 |
50 |
Vượt 21,69 lần |
| 4 |
Nhu cầu oxy hóa học (COD) |
mg/l |
2.336,00 |
150 |
Vượt 15,57 lần |
| 5 |
Tổng Nitơ |
mg/l |
174,24 |
40 |
Vượt 4,36 lần |
| 6 |
Tổng Photpho |
mg/l |
40,02 |
6 |
Vượt 6,67 lần |
| 7 |
Tổng Coliform |
MPN/100ml |
247.000 |
5.000 |
Vượt 49,40 lần |
Về chất lượng môi trường không khí tại 5 điểm chuồng trại (KK8 – KK12), nồng độ $NH_3$ dao động từ 0,038 đến 0,058 mg/m³, vượt quy chuẩn QCVN 06:2009/BTNMT từ 1,9 đến 2,9 lần (giới hạn cho phép là 0,02 mg/m³); nồng độ $H_2S$ dao động từ 0,015 đến 0,031 mg/m³ (dưới ngưỡng quy chuẩn 0,042 mg/m³); bụi và tiếng ồn nằm trong giới hạn cho phép.
Về chất lượng nước mặt tại 3 ao tiếp nhận nước thải xóm Lau (NM1, NM2, NM3), các chỉ tiêu hữu cơ đều vượt QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1): TSS vượt từ 1,72 đến 2,64 lần (86 – 132 mg/l); $BOD_5$ vượt từ 1,39 đến 2,18 lần (20,87 – 32,7 mg/l); COD vượt từ 1,92 đến 2,67 lần (57,6 – 80 mg/l); Coliform đạt 2.500 MPN/100ml.
3. Tình hình phát triển, vận hành và hiệu quả hầm biogas tại nông hộ
Giai đoạn 2010 – 2013, toàn xã đã được hỗ trợ xây dựng 223 hầm biogas (Ngành Tài nguyên & Môi trường hỗ trợ 145 hầm theo Quyết định 1443/QĐ-CT; Ngành Nông nghiệp & PTNT hỗ trợ 78 hầm gồm 62 hầm từ Dự án Khí sinh học Hà Lan và 16 hầm từ Dự án QSEAP của ADB).
Kết quả điều tra 100 hộ gia đình chỉ ra sự chuyển biến trong công tác xử lý chất thải trước và sau khi lắp đặt hầm biogas:
| Hình thức xử lý chất thải tươi |
Trước khi có hầm (%) |
Sau khi có hầm (%) |
| Nạp vào hầm biogas |
0 |
99 |
| Ủ phân (có mái che hoặc ngoài trời) |
71 |
3 |
| Thải trực tiếp ra kênh, mương |
12 |
0 |
| Bón trực tiếp ra ruộng |
21 |
0 |
| Dùng cho nuôi thủy sản |
6 |
1 |
| Bán hoặc cho |
3 |
0 |
Thực trạng vận hành và sử dụng công trình biogas tại 100 hộ khảo sát:
- Tình trạng hoạt động: 82% số hầm vận hành bình thường; 18% gặp sự cố kỹ thuật (tắc đường ống nạp, tắc ống dẫn khí, tắc bể). Có tới 93% hộ nạp toàn bộ chất thải và nước rửa vào hầm mà không định lượng thể tích tải nạp.
- Khả năng sinh khí: 82% số hộ cho biết lượng khí luôn đủ dùng; 16% hộ thừa khí; 2% chỉ đủ vào mùa hè. 100% các hộ sử dụng khí biogas cho mục đích đun nấu sinh hoạt gia đình.
- Hư hỏng thiết bị phụ trợ: Đèn thắp sáng biogas hay hỏng nhất (100% ý kiến ghi nhận), tiếp đến là bếp gas (84%), van khóa (34%) và đường ống dẫn khí (9%).
- Tận dụng bã thải/nước thải sau biogas: Chỉ có 44% hộ sử dụng bã thải làm phân bón; 56% không sử dụng, trong đó nguyên nhân chính là bã thải ở dạng lỏng khó vận chuyển (chiếm 70,9%) và do quan niệm sai lầm rằng chất thải sau biogas không còn giá trị dinh dưỡng (chiếm 29,1%).
- Cải thiện môi trường sống: 100% hộ khẳng định giảm mạnh khói bếp; 98% hộ đánh giá hầm biogas có khả năng xử lý chất thải chăn nuôi tốt.
4. Giải pháp bảo vệ môi trường chăn nuôi đề xuất
Tác giả đề xuất nhóm giải pháp tổng thể gồm: quy hoạch tách biệt khu chăn nuôi khỏi khu dân cư; đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường; tập huấn kỹ thuật vận hành, bảo dưỡng, nạo vét định kỳ hầm biogas; hướng dẫn công nghệ thu gom, ủ phân compost từ bã thải lỏng để làm phân bón hữu cơ; hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính để khuyến khích nhân rộng mô hình.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các kết quả đạt được về thực trạng ô nhiễm, hiệu quả môi trường – kinh tế của mô hình biogas và đưa ra các kiến nghị đối với UBND xã Hoàng Lâu, UBND huyện Tam Dương và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính của nghiên cứu
- Khóa luận đã định lượng cụ thể tải lượng ô nhiễm từ chất thải chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn xã Hoàng Lâu với tổng lượng phân phát sinh đạt 9.444,5 tấn/năm (năm 2013).
- Cung cấp các số liệu quan trắc thực tế chứng minh nước thải chăn nuôi chưa qua xử lý có mức độ ô nhiễm hữu cơ và vi sinh vật rất nghiêm trọng: $BOD_5$ vượt 21,69 lần, COD vượt 15,57 lần, TSS vượt 14,39 lần, Coliform vượt 49,4 lần so với QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B).
- Chứng minh hiệu quả rõ rệt của mô hình hầm biogas trong việc chuyển hóa chất thải: tỷ lệ chất thải tươi nạp vào hầm đạt 99%, chấm dứt hoàn toàn tình trạng xả thải phân tươi trực tiếp ra mương rãnh (giảm từ 12% xuống 0%) và bón trực tiếp ra ruộng (giảm từ 21% xuống 0%). 82% số hộ tự chủ hoàn toàn nhiên liệu đun nấu, 100% hộ giảm thiểu ô nhiễm khói bếp trong sinh hoạt.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Giải pháp quy hoạch: Từng bước di dời các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn ra khỏi khu vực lõi dân cư, xây dựng các khu chăn nuôi tập trung xa nguồn nước mặt sinh hoạt.
- Giải pháp kỹ thuật – vận hành: Hướng dẫn nông hộ tính toán thể tích tải nạp chất thải tương ứng với dung tích hầm, tránh hiện tượng quá tải khiến phân tươi trào ra ngoài khi chưa kịp phân hủy kỵ khí; thực hiện nạo vét bể định kỳ; khắc phục sự cố ăn mòn thiết bị (bếp, van khóa, đèn) do khí $H_2S$.
- Giải pháp sau biogas: Hướng dẫn kỹ thuật tách pha rắn – lỏng của phụ phẩm biogas, tận dụng bã thải và nước thải sau xử lý làm phân bón hữu cơ sinh học cho cây trồng nhằm tránh quá tải môi trường tiếp nhận nước mặt.
Đóng góp thực tiễn
Nghiên cứu cung cấp bộ dữ liệu thực chứng hoàn chỉnh về hiện trạng môi trường chăn nuôi tại xã Hoàng Lâu năm 2014, làm cơ sở khoa học giúp chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý môi trường huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đánh giá hiệu quả của các chương trình dự án hỗ trợ biogas (giai đoạn 2006 – 2013) và xây dựng chính sách quản lý môi trường nông thôn trong giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi và điều kiện thực hiện:
- Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung tại địa bàn xã Hoàng Lâu, huyện Tam Dương trong khoảng thời gian từ tháng 5/2014 đến tháng 8/2014, chưa theo dõi được sự biến động chất lượng môi trường và hiệu suất sinh khí theo chu kỳ mùa đông kéo dài (khi nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến hoạt lực của vi khuẩn metan hóa).
- Đối tượng khảo sát chủ yếu tập trung vào mô hình hầm biogas quy mô nông hộ nhỏ lẻ, chưa mở rộng đánh giá đối với các công trình xử lý chất thải của các trang trại chăn nuôi quy mô công nghiệp lớn.
- Hướng nghiên cứu mở rộng cần thực hiện: Nghiên cứu chuyên sâu về các công nghệ xử lý bậc hai đối với nước thải sau hầm biogas (như bãi lọc ngập nước nhân tạo, hồ sinh học kết hợp thủy sinh vật) và giải pháp cơ giới hóa khâu thu gom, đóng gói bã thải lỏng làm phân bón thương phẩm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Chăn nuôi Nông nghiệp khi thực hiện các đồ án, đề tài nghiên cứu về quản lý chất thải nông thôn và công nghệ xử lý kỵ khí.
- Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, huyện và các cơ quan khuyến nông trong việc đánh giá thực trạng, tổ chức nghiệm thu, giám sát vận hành các công trình biogas được nhà nước hoặc các tổ chức quốc tế tài trợ.
- Các nhà nghiên cứu quan tâm đến phương pháp điều tra xã hội học nông thôn kết hợp quan trắc thực địa và phân tích chi phí – lợi ích trong quản lý môi trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Nước thải chăn nuôi lợn tại xã Hoàng Lâu có nồng độ các chất ô nhiễm chính vượt quy chuẩn bao nhiêu lần?
Theo kết quả phân tích mẫu của Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ môi trường tỉnh Vĩnh Phúc, nồng độ $BOD_5$ đạt 1.084,41 mg/l (vượt 21,69 lần), COD đạt 2.336 mg/l (vượt 15,57 lần), TSS đạt 1.438,9 mg/l (vượt 14,39 lần) và Coliform đạt 247.000 MPN/100ml (vượt 49,4 lần) so với giới hạn Cột B của QCVN 40:2011/BTNMT.
2. Giai đoạn 2010 – 2013, xã Hoàng Lâu đã tiếp nhận hỗ trợ xây dựng bao nhiêu hầm biogas từ các dự án?
Trong giai đoạn 2010 – 2013, xã được các dự án hỗ trợ xây dựng tổng cộng 223 hầm biogas, bao gồm 145 hầm từ dự án của ngành Tài nguyên & Môi trường và 78 hầm từ các dự án của ngành Nông nghiệp & PTNT (62 hầm thuộc Chương trình Khí sinh học Hà Lan và 16 hầm thuộc Dự án QSEAP của ADB).
3. Tỷ lệ chất thải gia súc được nạp vào hầm biogas sau khi lắp đặt thay đổi như thế nào so với trước đó?
Trước khi xây dựng hầm, 0% chất thải được đưa vào biogas, 71% dùng để ủ phân và 12% xả trực tiếp ra kênh mương. Sau khi có hầm biogas, tỷ lệ chất thải tươi nạp vào hầm đạt 99%, ủ phân giảm còn 3% và tỷ lệ xả trực tiếp ra mương giảm về 0%.
4. Khảo sát 100 hộ dân cho thấy những thiết bị phụ trợ biogas nào hay bị hư hỏng nhất và nguyên nhân do đâu?
100% số hộ phản ánh đèn biogas là thiết bị hay hỏng nhất (do tuổi thọ ngắn, vận hành thủ công phải châm lửa bằng tay), 84% phản ánh bếp gas hay hỏng, 34% phản ánh van khóa hỏng và 9% phản ánh sự cố đường ống dẫn khí (chủ yếu do tính chất ăn mòn kim loại của khí $H_2S$ có trong khí sinh học).
5. Vì sao phần lớn các hộ dân (56%) không tận dụng bã thải sau biogas để làm phân bón cho cây trồng?
Trong số các hộ không sử dụng bã thải, 70,9% số hộ cho biết nguyên nhân là do bã thải sau biogas ở dạng lỏng gây khó khăn cho việc thu gom và vận chuyển ra đồng ruộng; 29,1% số hộ không sử dụng do chưa nắm được kỹ thuật hoặc quan niệm sai lầm rằng chất thải sau phân hủy kỵ khí không còn giá trị dinh dưỡng.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Chu Thị Hương Ly đã cung cấp bức tranh toàn diện và khách quan về thực trạng ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi gia súc tại xã Hoàng Lâu, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả nghiên cứu khẳng định mô hình hầm biogas là giải pháp kỹ thuật mang lại hiệu quả môi trường và kinh tế thiết thực cho các nông hộ, giúp giảm thiểu đáng kể tải lượng ô nhiễm hữu cơ và cung cấp nguồn năng lượng sạch tại chỗ. Các phát hiện về hạn chế trong vận hành, sự cố thiết bị và thực trạng lãng phí bã thải lỏng là cơ sở thực tiễn quan trọng để chính quyền địa phương hoàn thiện các biện pháp quản lý, tập huấn kỹ thuật và quy hoạch chăn nuôi bền vững.