MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay môi trƣờng nƣớc ta đang bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc đã đến mức báo động; đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lƣợng các nguồn nƣớc bị suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cƣ bị ô nhiễm nặng nề; khối lƣợng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trƣờng hợp bị khai thác quá mức, không có qui hoạch; đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng, điều kiện vệ sinh môi trƣờng, cung cấp nƣớc sạch ở nhiều nơi không đảm bảo. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ; quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số quá cao, tình trạng đói nghèo chƣa khắc phục đƣợc tại một số vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; các thảm hoạ do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trƣờng. Do vậy việc bảo vệ môi trƣờng vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của sự phát triển bền vững, phải đƣợc thể hiện trong các chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phƣơng.
Bảo vệ môi trƣờng là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi ngƣời dân, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông chúng ta. Bảo vệ môi trƣờng phải theo phƣơng châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu với môi trƣờng là chính, kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trƣờng và bảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tƣ của Nhà nƣớc với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội, kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phƣơng pháp phòng chống. Bảo vệ môi trƣờng là nhiệm c 2 vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao; Vì vậy, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ Đảng, sự thống nhất quản lý của Nhà nƣớc, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể; để từ đó làm cho môi trƣờng ở khu dân cƣ ngày càng “Xanh, sạch, đẹp” và làm cho mọi ngƣời dân có ý thức, kiến thức, sống thân thiện với môi trƣờng, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; đấu tranh khắc phục các tệ nạn, tập tục lạc hậu, thói quen trong sản xuất, sinh hoạt, tiêu dùng; xâm hại đến tài nguyên, môi trƣờng. Bảo vệ môi trƣờng là một công việc lâu dài, bền vững và phải đƣợc sự quan tâm thƣờng xuyên của Đảng, Nhà nƣớc, các cấp, các ngành chức năng và Mặt trận Tổ quốc cũng nhƣ các đoàn thể quần chúng; Nhà nƣớc cần cần phải tạo điều kiện về mọi mặt cho Mặt trận thực hiện nhiệm vụ to lớn và hết sức quan trọng này.
Trong những năm, qua ngành chăn nuôi phát triển khá bền vững và đạt kết quả đáng ghi nhận, đáp ứng cơ bản nhu cầu thực phẩm trong nƣớcngày càng cao của xã hội. Ngày nay, ngành chăn nuôi nƣớc ta đang có những dịch chuyển nhanh chóng từ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi trang trại, công nghiệp; từ chăn nuôi nhỏ lẻ lên chăn nuôi quy mô lớn. Đảng và Chính phủ quan tâm tới ngành chăn nuôi để cùng với ngành trồng trọt, thủy sản đảm bảo an ninh lƣơng thực, thức phẩm thông qua những chủ trƣơng, chính sách nhằm định hƣớng và tạo ra những cơ chế khuyến khích để ngành chăn nuôi phát triển nhanh, mạnh và vững chắc. Tuy nhiên, mặt chƣa đƣợc của chăn nuôi đó là vấn đề ô nhiễm môi trƣờng.
Tóm lại, chăn nuôi phát triển có thể cũng sẽ tạo ra những rủi ro cho môi trƣờng sinh thái và là một trong những nguyên nhân làm trái đất nóng lên nếu vấn đề môi trƣờng chăn nuôi không đƣợc quả lý hiệu quả. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế xã hội ở nƣớc ta hiện nayphát triển chăn nuôi sẽ vẫn là sinh kế quan trọng của nhiều triệu nông dân,cung cấp thực phẩm bổ dƣỡng cho con ngƣời, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sống cho hầu hết c 3 ngƣời lao động. Nếu các chất thải chăn nuôi đặc biệt phân chuồngkhông đƣợc xử lý hiệu quảsẽ là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn cho môi trƣờng, ảnh hƣởng xấu đến đời sống, sức khoẻ của cộng đồng dân cƣ trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài. Vấn đề đặt ra là phát triển chăn nuôi nhƣng phải bền vữngđể hạn chế tối đa mức độ gây ô nhiễm và bảo vệ đƣợc môi trƣờng sinh thái Nhìn chung, trong qúa trình hoạt động chăn nuôi của trang trại, ban quản lý trang trại đã chú trọng đến công tác phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trƣờng.
Các hoạt động phục vụ cho công tác bảo vệ môi trƣờng vẫn đƣợc duy trì trong mỗi công đoạn cũng nhƣ trong qua trình sử lý ảnh hƣởng về nƣớc không khí đất tác động ra môi trƣờng xung quanh. Bên cạnh những nỗ lực đó vẫn còn nhiều bất cập xảy ra ảnh hƣởng đến môi trƣờng và ngƣời dân xung quanh. Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, đƣợc sự đồng ý của Ban Giám hiệu trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Khoa Quản lí Tài Nguyên và đƣợc sự hƣớng dẫn của giảng viên Ts. Trần Thị Phả, tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải của trang trại chăn nuôi heo cơ sở 2 ông Phạm Đức Hùng , xã Huơng Lung - huyện Cẩm Khê - tỉnh Phú Thọ và đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm năm 2016”.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá mức độ ô nhiễm một số yếu tố môi trƣờng tại trang trại chăn nuôi lợn. - Đánh giá hiệu quả các biện pháp sử lý chất thải trong chăn nuôi đang áp dụng tại trang trại. - Đánh giá ảnh hƣởng của chất thải từ trang trại chăn nuôi lợn đến con ngƣời và môi trƣờng. - Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng của trang trại trong điều kiện thực tế của địa phƣơng.
Ý nghĩa của đề tài 1. Trong học tập và nghiên cứu - Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo và là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu có liên quan. - Vận dụng và phát huy đƣợc các kiến thức đã học tập và nghiên cứu để làm quen với thực tế. - Nâng cao kiến thức và tích lũy đƣợc kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
Trong thực tiễn - Đề tài trang bị cho sinh viên khi ra trƣờng có thể, áp dụng vào thực tiễn, và có cơ hội làm việc, có kiến thức chuyên sâu theo đúng chuyên ngành của mình. - Biết đƣợc các văn bản pháp quy, các tiêu chuẩn, quy chuẩn của quản lý nhà nƣớc, các thành phần gây ô nhiễm môi trƣờng và các công tác thực hiện vệ sinh môi trƣờng trong chăn nuôi cũng nhƣ đề ra các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm cho trang trại chăn nuôi lợn. c 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Một số khái niệm về môi trường - Khái niệm về môi trƣờng: Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trƣờng Việt Nam năm 2014, môi trƣờng đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Môi trƣờng là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và sinh vật”[8] .Khái niệm ô nhiễm môi trƣờng: Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trƣờng Việt Nam 2014: “Ô nhiễm môi trƣờng là sự biến đổi của các thành phần môi trƣờng không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng và tiêu chuẩn môi trƣờng gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật “Hoạt động bảo vệ môi trƣờng: Theo khoản 3 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trƣờng Việt Nam 2014: “ Hoạt động bảo vệ môi trƣờng là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trƣờng; ứng phó sự cố môi trƣờng; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trƣờng; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trƣờng trong lành[8]. Khái niệm tiêu chuẩn môi trƣờng: Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trƣờng Việt Nam 2014: “Tiêu chuẩn môi trƣờng là mức giới hạn của các thông số về chất lƣợng môi trƣờng xung quanh, hàm lƣợng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý đƣợc các cơ quan nhà nƣớc và các tổ chức công bố dƣới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trƣờng.” Quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng: Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trƣờng Việt Nam năm 2014: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng là mức giới hạn của các thông số về chất lƣợng môi trƣờng xung quanh, hàm lƣợng của các chất gây ô nhiễm có trong chất c 6 thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành dƣới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trƣờng[8]. Nước và một số khái niệm liên quan Nƣớc là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trƣờng, quyết định sự tồn tại và phát triển của đất nƣớc, là điều kiện để khai thác, sử dụng tài nguyên khác và là tƣ liệu sản xuất không thể thay thế đƣợc của ngành kinh tế [2]. Nguồn nƣớc là chỉ có dạng tích tụ nƣớc tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng đƣợc, bao gồm: sông, suối, kênh, rạch, biển, hồ, đầm, ao, các tầng chứa nƣớc dƣới đất, mƣa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nƣớc khác Nƣớc mặt là nƣớc tồn tại trong các tầng chứaa nƣớc dƣới mặt đất [3].
Nƣớc ngầm là nƣớc tồn tại trong các tầng chứa nƣớc dƣới mặt đất. Nƣớc thải công nghiệp là nƣớc thải đƣợc sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản xuất nhƣ nƣớc thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp hay hoạt động sinh hoạt của công nhân viên. Nƣớc thải công nghiệp rất đa dạng, khác nhau về thành phần cũng nhƣ lƣợng phát thải và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại hình công nghiệp, loại hình công nghệ sử dụng, tính hiện đại của công nghệ, tuổi thọ của thiết bị, trình độ quản lý của cơ sở và ý thức cán bộ công nhân viên.