CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tổng quan ve chất lượng nước Sự sống và phát triển bền vững trên trái đất chỉ có thể được duy trì thông qua nguồn nước chất lượng tốt với lượng phù hợp. Nguồn nước uống an toàn cũng được xem là nhu cầu cơ bản của con người. Tuy nhiên, suy thoái chất lượng nước làm giảm việc sử dụng nước cho các mục đích khác nhau cùng với tạo nhiều thách thức về việc khan hiếm nguồn nước. Theo Meybeck và cộng sự (1996) [4], chất lượng nước thể hiện sự thích hợp của nguồn nước để duy trì các chu trình lý - hóa - sinh xảy ra trong nước và phục vụ các mục đích sử dụng khác nhau.
Chất lượng nước có thể được xác định bởi một loạt các tham số khác nhau nhằm xác định mục đích sử dụng của từng nguồn nước. Chất lượng nước phụ thuộc vào hàm lượng các thông số lý - hóa - sinh có trong nước. Trong khi đó, hàm lượng những thông số này phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên (như địa chất, địa hình, khí tượng, thủy văn, sinh học) của lưu vực sông và dao động theo mùa tùy thuộc vào điều kiện dòng chảy, thời tiết và mực nước. Ngoài ra, sự can thiệp của con người cũng có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng nước: thay đổi dòng chảy thủy văn (xây dựng các đập nước, thoát nước.), xả thải gây ô nhiễm (nước thải sinh hoạt, công nghiệp, đô thị, lây lan hóa chất trên đất nông nghiệp thuộc lưu vực sông.
Có hai cách để đánh giá được chất lượng nước mặt: Nồng độ (mg/L) và Tải lượng (tấn/năm). Các thông số chất lượng nước được thể hiện qua 3 chỉ tiêu sau: chỉ tiêu vật lý (Độ pH, nhiệt độ, màu sắc, độ đục, tổng chất rắn lơ lửng trong nước (TSS), tổng chất rắn hòa tan (TDS)), chỉ tiêu hóa học (Độ kiềm toàn phần, độ cứng của nước, lượng oxy hoà tan trong nước (DO), nhu cầu oxy sinh hoá (BODs), nhu cầu oxy hóa học (COD), các hợp chất Nitơ, các hợp chat Phospho.) và chỉ tiêu sinh học (vi trùng, siêu vi trùng và các loài thủy vi sinh khác).2 Tong quan về KLN Theo Jaishankar và cộng sự (2014) [5] KLN là nhóm kim loại hoặc á kim có khối lượng riêng lớn hon 5 g/cm3, như sắt (Fe), niken (Ni), mangan (Mn), chì (Pb), cadimi (Cd), đồng (Cu), kẽm (Zn), asen (As), thủy ngân (Hg), crom (Cr). Trong đó, nước là môi trường phát sinh ô nhiễm và là noi KLN dễ dàng xâm nhập vào hệ thống thủy sinh. Ô nhiễm KLN trong môi trường nước là một mối quan tâm lớn do tính chất bền, độc tính tiềm ẩn và khả năng lũy trong môi trường thủy sinh và chuỗi thức ăn.
KLN được phát hiện có thể gây độc hại ngay cả ỏ nồng độ tư ong đối thấp. KLN xuất hiện tự nhiên trên trái đất nhưng có thể bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của con người. Trong thời gian gần đây, lượng KLN trong môi trường đã tăng lên rất nhiều do các hoạt động của con người [6]. Hàm lượng KLN trong môi trường và phoi nhiễm trên toàn thế giới đã tăng lên do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và nông nghiệp làm tăng các tác động có hại cho sức khỏe con người.
Cùng với các nguồn khác, việc xả liên tục một lượng lớn nước thải công nghiệp chưa qua xử lý làm tăng hàm lượng KLN trong nước và dẫn đến các ảnh hưởng nghiêm trọng đối với các loài thủy sinh, cuối cùng phá vỡ hoàn toàn chức năng thông thường của hệ sinh thái. Trong những điều kiện môi trường nhất định, KLN có thể tích lũy đến nồng độ độc hại và sau đó gây ra các ảnh hưởng sinh thái đáng kể đối với sức khỏe con người. KLN không thể phân hủy và tăng liên tục hàm lượng trong các vùng nước dẫn đến tích lũy sinh học dọc theo chuỗi thức ăn, gây ra các tác động độc hại ở các điểm cách xa nguồn ô nhiễm. KLN có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua việc ăn uống và da tiếp xúc với nguồn nước ô nhiễm.
Tiếp xúc với các kim loại độc hại có thể dẫn đến rối loạn về thể chất, cơ bắp, tim mạch, thận và hệ thần kinh, trong khi việc tiếp xúc lâu dài cũng có thể gây ra các bệnh chết người như Alzheimer, Parkinson, bệnh đa xơ cứng và ung thư [7], Ngoài ra, việc tiếp xúc liên tục với KLN gây mất cân bằng bên trong cơ thể, ảnh hưởng đến hoạt động của nhiều loại hoc-mon và chức năng của enzym thiết yếu. Do đó, việc đánh giá đúng chất lượng nước mặt cùng với nguy cơ ô nhiễm KLN có tầm quan trọng to lớn đối với việc bảo vệ môi trường và nguy cơ sức khỏe con người.3 Phương pháp đánh giá chất lượng nước ỉ. ỉ Quan trắc môi trường Hoạt động quan trắc môi trường nói chung, quan trắc môi trường nước mặt nói riêng, hiện nay được phân công cho nhiều đon vị thực hiện: cấp Trung ưong, cấp địa phưong hoặc trong khuôn khổ các chưong trình nghiên cứu. Triển khai hoạt động quan trắc môi trường nước mặt cấp quốc gia và địa phưong.
Qua nhiều năm triển khai, các kết quả quan trắc môi trường nước mặt đã góp phần cung cấp bộ số liệu liên tục và đáng tin cậy, hỗ trọ việc xác định và đánh giá các nguồn ô nhiễm, giúp các nhà quản lý đưa ra những chính sách nhằm quản lý và giám sát chất lượng nước mặt lục địa [8]. BTNMT đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp quy liên quan đến quan trắc môi trường nước, cụ thể là Thông tư số 29/2011/TT-BTNMT quy định Quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước mặt lục địa, theo đó căn cứ theo mục tiêu của chương trình quan trắc, loại nguồn nước, mục đích sử dụng, nguồn ô nhiễm hoặc nguồn tiếp nhận mà quan trắc các thông số sau: - Thông số đo, phân tích tại hiện trường: pH, nhiệt độ (t°), DO, EC, độ đục, TDS. - Thông số khác: độ màu, thế oxi hóa khử (Eh hoặc ORP), TSS, BOD5, COD, NO2, NƠ3’, NH4+, SƠ42’, PO43', T-N, T-P, silicat (SÌO32'), tổng sắt, Cl', florua, độ kiềm, coliform, E.coli, phecal coli, xianua (CN’), đioxit silic (S1O2), dầu, mỡ, As,Cd, Cr, Pb, Hg, Zn, Cu, Ni, Mn, Na+, K+, Mg2+, Ca2+, phenol, chất hoạt động bề mặt, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật, sinh vật phù du và sinh vật đáy. Quy chuẩn QCVN 10-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước biển được áp dụng thay thế QCVN 10:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ và QCVN 44:2012/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển xa bờ.2 Chỉ số chất ỉượng nước Đe đánh giá chất lượng nước (CLN) ở các con sông, kênh rạch, ao đầm, các nhà khoa học thường dựa trên các thông số riêng biệt của CLN, sau đó so sánh với các giới hạn được quy định trong các tiêu chuẩn/quy chuẩn quốc gia.
Tuy nhiên, hạn chế của tiếp cận này là đánh giá riêng biệt CLN sẽ không đánh giá tổng quát được theo không gian và thời gian; hon nữa, khi đánh giá từng các thông số khác nhau, chỉ có các nhà khoa học, các nhà chuyên môn mới đánh giá hết được thông số mình hiểu biết [9]. Do vậy, để khắc phục các hạn chế trên, chỉ số CLN (Water Quality Index - WQI) được xây dựng và ứng dụng. WQI là một chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc chất lượng nước, dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước đó; được biểu diễn qua một thang điểm. Nghiên cứu chỉ số CLN được đề xuất và áp dụng đầu tiên tại Mỹ vào những năm 1965 - 1970; sau đó được nghiên cứu, phát triển và ứng dụng thành công ở nhiều quốc gia như: Canada, Anh, Úc, Việt Nam.
- WQI của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation-NSF): được dùng phổ biến nhất trên thế giới, xây dựng dựa theo phương pháp Delphi, tổng hợp ý kiến của các chuyên gia khắp nước Mỹ để lựa chọn các thông số DO, Fecal Coliform, BOD5, pH, NƠ3", PO43; Nhiệt độ, Độ đục và TS từ đó đánh giá được CLN. - WQI của bang Origon: phân tích và phát triển chỉ số WQI dựa trên WQI_NFS với 8 thông số chính là: Nhiệt độ, pH, DO, BOD, TN, TP, TS và coliform, phương pháp Delphi và Rating Curve được sử dụng để tính toán chỉ số phụ. - WQI của bang Floria: sử dụng các thông số: Độ đục, TSS, DO, COD, BOD, TOC, tổng N, Nitrat, tổng p, tổng Coliform và Fecal Coliform; phương pháp Rating Curve được sử dụng để tính toán chỉ số phụ cho các thông số trên. Chỉ số cuối cùng bằng trung bình cộng của các thông số phụ, phương pháp này không sử dụng trọng số.
7 - WQI của Canada (WQI - CCME): dựa trên tất cả các thông số có trong kết quả quan trắc như BOD, COD, pH, DO. WQI-CCME là một công thức định lượng với các thông số có giá trị như nhau (không tính trọng số) nên dễ dàng cho việc tính toán. - WQI của Các nước Châu Ẩu và Malaysia, Ẵn Độ: chủ yếu được xây dựng phát triển từ WQI - NSF (của Mỹ), tuy nhiên mỗi Quốc gia - địa phương lại lựa chọn các thông số đánh giá và phương pháp tính chỉ số phụ riêng tùy mục đích sử dụng tính toán [10]. Theo Phạm Ngọc Hồ (2011) [ 11 ]: - Phương pháp chỉ số chất lượng nước (WQI) của Mỹ tính đến trọng số Wi - cho điểm từ 0 - 1 theo ý kiến chuyên gia, do vậy trọng số này mang tính chủ quan.
Thang phân cấp đánh giá là tự quy định, không phụ thuộc vào tổng số n của các thông số khảo sát nên dẫn đến ngưỡng đánh giá có thể không phù hợp với thực tế và số các thông số khảo sát còn hạn chế (9 thông số). Đặc biệt, việc tính chỉ số phụ phải xây dựng các giản đồ tương ứng quá phức tạp. - Phương pháp đánh giá chất lượng nước CWQI (Canada) có ưu điểm không hạn chế số các thông số khảo sát n, nhưng chưa tính được giá trị Wi từng thông số khảo sát. Thang đánh giá vẫn mang tính chủ quan và cố định, nên ngưỡng đánh giá có thể sai lệch với thực tế.
Đẻ khắc phục những hạn chế nêu trên, GS.TS Phạm Ngọc Hồ đã tiến hành cải tiến phương pháp đánh giá chất lượng thành phần môi trường (đất, nước, không khí) bằng chỉ tiêu tổng hợp có trọng số và quy chuẩn về một thông số (chất) tại cùng một mốc tính toán ban đầu, làm cơ sở cho việc xây dựng chỉ số chất lượng môi trường tổng cộng (TEQI).