Đặt vấn đề Việt Nam có vùng biển rộng lớn với diện tích trên 1 triệu km², đường bờ biển dài khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ nằm dọc chiều dài bờ biển từ Bắc đến Nam. Đến nay, ở biển Việt Nam đã phát hiện được khoảng 12.000 loài sinh vật trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình [1]. Nghề cá biển Việt Nam có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Những năm gần đây, tổng sản lượng khai thác hải sản sản liên tục gia tăng (năm 2000 đạt 1,66 triệu tấn; năm 2005 là 1,98 triệu tấn; năm 2010 đạt 2,22 triệu tấn; năm 2015 đạt 2,87 triệu tấn và năm 2019 là 3,58 triệu tấn).
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng liên tục tăng (năm 2000 chỉ đạt 1,48 tỷ đô-la; năm 2005 tăng lên 2,74 tỷ đô-la; năm 2010 đạt 5,02 tỷ đô-la; năm 2015 là 6,72 tỷ đô-la và năm 2019 đạt 8,54 tỷ đô-la) [49-53]. Sản xuất thủy sản đã cung cấp gần 40% tổng lượng đạm động vật tiêu thụ toàn quốc và sử dụng khoảng 4% lực lượng lao động [1]. Cá nổi nhỏ là các loài cá có kích thước nhỏ, chủ yếu ăn phù du sinh vật sống chủ yếu ở tầng nước phía trên, thường ở tầng nước phía trên của thềm lục địa và không vượt quá 200 m [79]. Cá nổi nhỏ đóng vai trò rất quan trọng đối với nguồn lợi hải sản ở biển Việt Nam nói chung và đặc biệt ở vùng biển vịnh Bắc Bộ.
Kết quả nghiên cứu nguồn lợi hải sản ở vùng biển Thuận Hải - Minh Hải cho thấy cá nổi nhỏ đóng vai trò rất quan trọng, chiếm tới 80,0% tổng sản lượng khai thác cá biển [28]; trữ lượng cá nổi chiếm 54,4% tổng trữ lượng cá biển [4]. Kết quả đánh giá trữ lượng nguồn lợi hải sản bằng lưới kéo đáy cho thấy, cá nổi chiếm khoảng 52,7% tổng trữ lượng hải sản ở biển Việt Nam (vịnh Bắc Bộ chiếm 33,0%; Đông Nam Bộ chiếm 52,9% và Tây Nam Bộ chiếm 38,0%) [43]. Kết quả nghiên cứu tổng hợp nguồn lợi hải sản bằng lưới kéo đáy và thủy âm đã xác định tỷ lệ cá nổi nhỏ ở biển Việt Nam chiếm trung bình khoảng 63,0% tổng trữ lượng cá biển (trong đó, vịnh Bắc Bộ chiếm 83,3%, Miền Trung chiếm 89,0%, Đông Nam Bộ chiếm 42,9%, Tây Nam Bộ chiếm 62% và các gò nổi chiếm 100,0%) [8]. Nghiên cứu đánh giá nguồn lợi cá nổi nhỏ bằng phương pháp thủy âm, giai đoạn 2003- 1 luan an 2005, đã xác định tổng trữ lượng trung bình của cá nổi nhỏ ở biển Việt Nam là 2,74 triệu tấn (vịnh Bắc Bộ: 433.000 tấn; Trung Bộ: 595.000 tấn; Đông Nam Bộ: 771.000 tấn và Tây Nam Bộ: 945.
Nhiều nghiên cứu về nguồn lợi cá nổi nhỏ ở biển Việt Nam đã được thực hiện, trong đó chủ yếu về đánh giá trữ lượng, phân bố của cá nổi nhỏ; đặc trưng sinh học sinh trưởng, sinh sản của một số loài cá nổi nhỏ. Gần đây, một số tác giả cũng bắt đầu nghiên cứu về mối quan hệ giữa một số yếu tố hải dương đến sự phân bố của các loài cá nổi nhỏ [21]. Kết quả nghiên cứu này đã bổ sung các cơ sở khoa học về sinh thái cá nổi nhỏ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học quần xã cá nổi nhỏ ở Việt Nam còn khá hạn chế.
Cá nổi nhỏ đang chịu sự tác động mạnh mẽ của các hoạt động khai thác hải sản. Các hoạt động của nghề cá biển đang trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra những rủi ro sinh thái đối với nhóm nguồn lợi cá nổi nhỏ. Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá về các rủi ro sinh thái của các loại nghề khai thác cá nổi nhỏ ở Việt Nam nói chung và vịnh Bắc Bộ nói riêng. Quản lý nghề cá theo tiếp cận sinh thái đang được hình thành, phát triển và ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.
Các nhà khoa học đã phát triển nhiều phương pháp nhằm đánh giá những tác động đến nguồn lợi và hệ sinh thái của hoạt động nghề cá. Nghề cá Việt Nam cũng đang vấp phải những vấn đề bất cập như nhiều quốc gia khác trên thế giới và khu vực. Nghề khai thác hải sản ở Việt Nam đa phần là nghề cá qui mô nhỏ hoạt động chủ yếu ở vùng nước ven bờ. Sự gia tăng áp lực khai thác ở vùng nước ven bờ đã dẫn đến sự giảm sút nghiêm trọng nguồn lợi.
Việc áp dụng thí điểm các mô hình quản lý nghề cá theo hướng tiếp cận hệ sinh thái đã và đang được triển khai ở một số địa phương. Tuy nhiên, cơ sở khoa học cho việc triển khai mô hình quản lý nghề cá tiếp cận hệ sinh thái còn khá hạn chế, đặc biệt đối với các nghề khai thác cá nổi nhỏ. Như vậy, đối tượng cá nổi nhỏ mặc dù đã được nghiên cứu tương đối nhiều, nhưng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế: (1) Xu thế biến động nguồn lợi còn chưa được phân tích một cách đồng bộ và hệ thống; (2) Thiếu các cơ sở khoa học về 2 luan an sinh thái cá nổi nhỏ, đặc biệt là ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến phân bố nguồn lợi, các đặc trưng quần xã cá nổi nhỏ; (3) Chưa có đánh giá về rủi ro sinh thái của các nghề khai thác cá nổi nhỏ. Đề tài nghiên cứu “Đánh giá nguồn lợi cá nổi nhỏ và các rủi ro sinh thái của một số nghề khai thác chủ yếu ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam” được thực hiện nhằm cung cấp các cơ sở khoa học quan trọng cho việc đề xuất các chính sách quản lý các nghề cá khai thác cá nổi nhỏ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Có được các luận cứ khoa học về nguồn lợi, môi trường và nghề khai thác cá nổi nhỏ ở vịnh Bắc Bộ một cách hệ thống, gồm: đặc điểm cấu trúc thành phần loài, độ phong phú, phân bố, trữ lượng; đặc điểm sinh thái học, tác động của các yếu tố môi trường đến phân bố và sự tụ họp loài trong quần xã cá nổi nhỏ; các rủi do sinh thái của nghề khai thác cá nổi nhỏ làm cơ sở cho việc quản lý, phát triển bền vững nguồn lợi và nghề cá. Mục tiêu cụ thể (1) Đánh giá được các đặc điểm cấu trúc thành phần loài, độ phong phú tương đối, phân bố, trữ lượng nguồn lợi cá nổi nhỏ ở vịnh Bắc Bộ; (2) Đánh giá được các đặc điểm sinh thái học nguồn lợi cá nổi nhỏ ở vịnh Bắc Bộ, gồm: các chỉ số đa dạng sinh học, sự tụ họp loài của quần xã, ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến cấu trúc quần xã và sự phân bố của cá làm cơ sở cho việc định hướng quản lý nghề cá dựa trên tiếp cận hệ sinh thái và phát triển các mô hình dự báo ngư trường khai thác cá nổi nhỏ; (3) Đánh giá được các rủi do sinh thái của các nghề khai thác cá nổi nhỏ ở vịnh Bắc Bộ làm cơ sở cho các tiếp cận quản lý nghề cá dựa vào hệ sinh thái. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu 3 luan an Đối tượng nghiên cứu của luận án là các loài cá nổi nhỏ, các yếu tố môi trường, sinh thái và nghề khai thác cá nổi nhỏ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, như sau: (1) Các loài cá nổi nhỏ: Các loài cá nổi nhỏ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, là đối tượng nghiên cứu của luận án được phân chia thành 7 nhóm loài chính, gồm: cá nục, cá trích, cá khế, cá cơm, cá bạc má, cá ngân, cá nổi nhỏ khác; (2) Các yếu tố môi trường, sinh thái: nhiệt độ nước biển, độ muối, chlorophyll a, dòng chảy, độ cao mực biển, độ sâu. (3) Nghề khai thác cá nổi nhỏ: Các nghề khai thác hải sản chủ yếu ở vịnh Bắc Bộ gồm: nghề lưới kéo đáy, lưới rê, câu, lưới vây, vó, mành, chụp. Trong đó, nghề lưới vây, vó, mành và nghề chụp có đối tượng khai thác chính là cá nổi nhỏ; các nghề còn lại (lưới kéo đáy, lưới rê, câu) cá nổi nhỏ chỉ là đối tượng khai thác thứ yếu. Nghề lưới vây và nghề chụp có quy mô đội tàu khá lớn, phạm vi hoạt động rộng khắp vịnh Bắc Bộ.
Trong khi đó, nghề vó và nghề mành có quy mô khá nhỏ, chỉ tập trung chủ yếu ở Thanh Hoá và Nghệ An. Do đó, trong khuôn khổ của luận án, nghề lưới vây và nghề chụp khai thác cá nổi nhỏ được lựa chọn là đối tượng nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu Về không gian, phạm vi nghiên cứu của luận án là vùng biển vịnh Bắc Bộ thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam, được giới hạn về phía Đông bởi ranh giới phân định vịnh Bắc Bộ, được xác định trong “Hiệp định giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ”. Trong đó, giới hạn vùng biển về phía đông là đường phân định, được xác định bởi đường thẳng nối 21 điểm; giới hạn về phía nam là đường thẳng nối giữa mũi Oanh Ca, đảo Hải Nam, Trung Quốc và đảo Cồn Cỏ Việt Nam [159].
Vùng biển này nằm trong vùng địa lý cận nhiệt đới gió mùa, với 2 mùa chính là mùa Tây Nam và mùa Đông Bắc. Vịnh Bắc Bộ là vùng biển nửa kín “semi-closed”, được thông với Biển Đông ở khu vực cửa vịnh Bắc Bộ, có độ sâu không lớn (nhỏ hơn 100m). Về thời gian, luận án sử dụng các số liệu của các đề tài, dự án của Viện 4 luan an Nghiên cứu Hải sản, thu thập được trong giai đoạn từ năm 1996 đến 2017. Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm thành phần loài, độ phong phú tương đối, phân bố và trữ lượng nguồn lợi cá nổi nhỏ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ.
(1) Đánh giá biến động cấu trúc thành phần loài, thành phần sản lượng, năng suất khai thác, phân bố của cá nổi nhỏ; (2) Đánh giá trữ lượng nguồn lợi nhóm cá nổi nhỏ chủ yếu (cá nục, cá trích, cá khế, cá cơm, cá bạc má, cá ngân); Nội dung 2: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học nguồn lợi cá nổi nhỏ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ (1) Nghiên cứu tương quan giữa một số yếu tố môi trường, hải dương học và phân bố cá nổi nhỏ; (2) Nghiên cứu đa dạng sinh học loài của quần xã cá nổi nhỏ; (3) Nghiên cứu sự tụ họp loài và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, sinh thái đến sự tụ họp loài của quần xã cá nổi nhỏ.