Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM, NGOẠI HÌNH GIỐNG LỢN DUROC, LỢN LANDRACE X YORSHIRE 1. Giống lợn Duroc Giống lợn Duroc có nguồn gốc từ Bắc Mỹ, số lượng phân bố lớn trên thế giới, được du nhập vào nước ta khoảng năm 1956 ở miền Nam. Ngoại hình: Màu lông đa dạng: màu vàng cho đến màu nâu đậm, thân ngắn, mõm và bốn chân có màu nâu đen, ngoại hình cân đối, thể chất vững chắc, tai to ngắn cụp che mắt, tầm vóc vừa phải, chân to cứng.
Giống đực trưởng thành có khối lượng từ 250-280kg, nái trưởng thành từ 200-230kg, khả năng sinh sản vừa phải, số con binh quân 9,3 con/lứa. Lợn nuôi thịt có khả năng tăng trọng nhanh đạt 785g/con/ngày. Hướng sử dụng: có khả năng thích ứng, chịu đựng cao với điều kiện khí hậu nóng. Chủ yếu được sử dụng trong các tổ hợp lai kinh tế với lợn nội hoặc lai ngoại với ngoại nhằm đạt mức tăng trọng nhanh, tỉ lệ nạc cao.
Giống lợn Landrace Giống lợn Landrace là giống lợn được nhập nội vào Việt Nam có nguồn gốc từ Đan Mạch. Đây là giống cho nhiều nạc, phàm ăn, thích nghi với điều kiện khí hậu của nước ta. Ngoại hình: lợn có màu trắng tuyền, thân dầy và dài, tai rủ che kín mắt, bụng thon, mông phát triển, chân to thắng, hình dáng giống quả thuỷ lôi. Lợn đực trưởng thành nặng 300-320kg, có thể sử dụng lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh dịch khai thác đạt khoảng 270ml/lần.
Lợn cái nặng 220-250kg, tuổi phối giống lần đầu 310 ngày, số con đẻ ra 9-11con/lứa, khối lượng sơ sinh từ 1,3- 1,4kg/con, khối lượng lúc 60 ngày tuổi đạt 16-18kg/con. Lợn thịt lúc 6 tháng đạt 100kg, tỉ nạc đạt 55-56% (Vũ Đình Tôn, 2009). 3 Hướng sử dụng: lợn Landrace nuôi phổi biến ở nước ta, được sử dụng trong các công thức lai kinh tế giữa các giống ngoại với nhau hoặc với giống nội tạo ra đàn lợn thịt không những có năng suất chất lượng cao mà còn được nhân thuần để tăng số lượng đàn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Giống lợn Yorshire Yorkshire là giống lợn phổ biến nhất trên thế giới, được nuôi ở nhiều nơi.
Ở nước ta giống này được nhập vào miền Nam từ những năm 1920 được là lợn Đại Bạch. Đến năm 1964 lợn được nhập vào miền Bắc thông qua Liên Xô cũ. Đến năm 1978, lợn được nhập từ CuBa. Giống lợn Yorkshire là một trong những giống nước ta sử dụng nhiều cho chương trình nạc hóa đàn lợn.
Đặc điểm ngoại hình: toàn thân lợn có màu trắng, hơi có ánh vàng, mặt hơi thô, mõm cong lên, tai to vừa phải và dựng đứng. Lợn có khối lượng con đực trưởng thành từ 350 đến 380kg, con cái trưởng thành nặng 250 đến 280kg (Võ Trọng Hốt và cs, 2000), lợn cái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi, số con đẻ ra trên lứa từ 11-13 con/lứa, số lứa trên năm 2,0-2,2. Khối lượng sơ sinh trung bình từ 1,3-1,4kg/con, khối lượng lúc 60 ngày tuổi đạt 16-20kg. Lợn thuộc giống cho nhiều nạc tỉ lệ nạc đạt 52-55%.
Hướng sử dụng: lợn Yorkshire nuôi chủ yếu để lai trong các công thức lai kinh tế với các giống khác. Lợn cái có năng suất sinh sản khá và khả năng chống chịu tốt nên thường được sử dụng làm nái sinh sản. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH SẢN CỦA LỢN NÁI, CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN 1. Đặc điểm sinh lý sinh sản Sinh sản là một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật, đồng thời là chức năng tái sản xuất của gia súc, gia cầm.
Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật, đó là quá trình có sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, tiền đề của sự sinh sản hữu tính là quá 4 trình giao phối. Sinh sản hữu tính là một quá trình mà ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, thụ tinh giữa tinh trùng và trứng hình thành hợp tử, hợp tử phát triển trong tử cung của con cái, cuối cùng sinh ra đời con. Khả năng sinh sản được biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu: đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ sống ki đẻ và khi cai sữa, độ đồng đều, khả năng tiết sữa, thời gian động dục trở lại của lợn cái sau khi cai sữa. Sinh sản của gia súc là một hình thái của sức sản xuất và cũng biểu hiện đặc trưng của tính di truyền của mỗi phẩm chất giống.
Ở lợn cũng như ở gia súc, gia cầm khác chức năng tái sản xuất chỉ có thể được bắt đầu khi con vật đã thành thục về tính, tức là khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Ở gia súc, tuổi thành thục về tính được ghi nhận bằng các biểu hiện: bộ phận sinh dục phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng lần đầu, con đực sinh tinh. Tinh trùng và trứng găp nhau có khả năng thụ thai, các đặc tính sinh dục thứ cấp xuất hiện, con vật xuát hiện các phản xạ sinh dục: con cái động đực, con đực có phản xạ giao phối. Thời gian thành thục về tính của lợn cái từ 6 đến 8 tháng tuổi, tuổi thàn thục về tính ở các giống lợn có sự khác nhau: lợn nội từ 4 – 5 tháng, lợn lai (lợn nội x lợn ngoại) 5-6 tháng tuổi, lợn ngoại 7-8 tháng tuổi.
Tuổi thành thục về tính còn phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu, chế độ dinh dưỡng cho lợn nái trong giai đoạn nuôi hậu bị. Tuy nhiên người ta chỉ đưa vào khai thác khi lợn đã thành thục về thể vóc, đó là tuổi mà con vật có sự phát triển về ngoại hình và thể vóc đạt tới độ hoàn chỉnh, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định, thời gian thành thục về thể vóc thường chậm hơn thành thục về tính, nghĩa à sau khi con vật đã thành thục về tính thì vãn tiếp tục sinh trưởng lớn lên. Chính vì vậy, trong chăn nuôi lợn không nên cho lợn cái sinh sản quá sớm vì nếu lợn cái phối giống sớm khi cơ thể chưa có sự phân hóa chất dnh dưỡng, ưu tiên cho sự phát triển của bào thai, ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cơ thể mẹ, do đó sự phát triển của bào 5 thai cũng bị ảnh hưởng. Kết quả là mẹ yếu, con nhỏ.
Mặt khác, khung xương chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ hẹp làm con vật khó đẻ con. Do đó việc xác định tuổi phối giống lần đầu với lợn cái có ý nghĩa quan trọng trong chăn nuôi. Tuổi giao phối lần đầu với lợn cái nội là 6-7 tháng năng 50kg, lợn lai trên 7 tháng nặng từ 60-70kg, lợn ngoại từ 9-10 tháng năng trên 80-90kg. Khi lợn đã thành thục về tính, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý, thì cơ thể con cái, đặc biệt là cơ quan sinh dục có biến đổi kèm theo sự rụng trứng.
Sự sinh trưởng của trứng dưới sự điều tiết của hormone thùy trước yên làm cho trứng chín và rụng một cách có chu kỳ và biểu hiện bằng những triệu chứng động dục kèm theo chu kỳ được gọi là chu kỳ tính. Thời gian chu kỳ tính là từ lần rụng trứng trước tới lần rụng tứng sau. Chu kì tính được bắt đầu từ khi lợn cái thành thục về tính, nó tiếp tục xuất hiện và chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể đã già yếu. Chu kỳ tính của lợn cái là một hiện tượng sinh vật học có tính quy luạt, nó tạo ra hàng loạt những điều kiện cần thiết để tiến hành giao phối, thụ tinh và phát triển bào thai.
Thời gian chu kỳ tính của lợn là từ 17 – 27 ngày, trung bình là 21 ngày. Thời gian của mỗi lần động đực là 3-4 ngày, sau khi lợn động đực 20-24 giờ thì trứng rụng, thời gian trứng rụng kéo dài từ 4-6 giờ, ở lợn cái tơ quá trình này kéo dài hơn khoảng 10 giờ. Có từ 10-25 tế bào trứng rụng trên một lần, ở lợn cái tơ số lượng trung bình là 14 và giao động từ 7-16 trứng, còn ở lợn trưởng thành trunh bình là 20 và giao động từ 15- 25 trứng. Ở các giống khác nhau thì số lượng trứng rụng cũng khác nhau.
Chu kỳ tính của lợn cái được điều khiển thông qua hệ thống thần kinh và thể dịch. Tất cả các kích thích bên ngoài và trong cơ thể như: khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, chế độ nuôi dưỡng, quản lý, tác động xoa bóp, mùi vị con đực, tính trạng cơ quan sinh dục và các bộ phận khác của cơ thể đều ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ tính một cách phản xạ theo phương thức thần kinh, thể dịch. 6 Tất cả các kích thích đó được cơ quan cảm nhận như: tai, mắt, mũi da,… thu nhận từ đó tác động lên hệ thống thần kinh trung ương và thông qua sự điều tiết của tuyến yên để điều chỉnh quá trình sinh dục. Bởi vì giữa vùng hypothalamus và tuyến yên có mối quan hệ mạt thiết với nhau, khu vực có nhiều mạch quản và thần kinh.
Nếu thần kinh đi vào hypothalamus bị tổn thương hay đường truyền xuống tuyến yên bị cắt đứt thì sự phân tiết hormone kích thích sinh dục của tuyến yên xũng đồng thời giảm theo. Sự điều chỉnh chu kỳ tính không những được thực hiện tuân theo phương thức phản xạ không điều kiện mà có thể thực hiện thông qua sự liên hệ phản xạ có điều kiện. Cùng với yếu tố thần kinh, hormone của tuyến yên là một điều kiện quan trọng và cần thiết đề làm xuất hiện, điều chỉnh hoạt động của quá trình sinh dục. Hypothalamus dưới tác động của gonadotropin releasing hormone (GRH) kích thích thùy trước tuyến yên giải phóng FSH và LH.
FSH kích thích sự phát triển của trứng còn LH kích thích thải trứng và ảnh hưởng đến sự hình thành thể vàng. Sau khi rụng trứng 7 ngày, thể vàng đạt được kích thước 8-9 Mmm. Ở tổ chức tuyến của thể vàng tiết ra hormone progesteron giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung. Thể vàng tồn tại trong suốt quá trình mang thai.
Hormone Progesteron ức chế hypothalamus giải phóng GRH trong thời gian mang thai và qua đó ngăn cản động dục. Do vậy, hormone nay được coi như là hormone bảo vệ sự mang thai. Nếu như trứng rụng không được thụ tinh, thể vàng tồn tại đến ngày thứ 16-17 bị phá vỡ dưới tác động của prostalandine so sừng tử cung tiết ra, sau đó chu kỳ tính mới lại bắt đầu. Theo quy luật, lợn mẹ sau khi cai sữa cho con sẽ biểu hiện động dục vào ngày thứ 4 đến thứ 8.