MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Việt Nam là nước có nên nông nghiệp phát triển mạnh, trong đó ngành chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn đóng vai trò quan trọng, cung cấp sản lượng thịt lợn lớn cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khâu. Theo ông Phùng Đức Tiên, Thứ trưởng Bộ NN- PTNT trong giai đoạn 2008-2018, tổng đàn lợn có sự biến động từ 26,7 triệu con lên đến 29,1 triệu con. Đến ngày đầu tháng 7-2019, đo xảy ra địch ta lon Chau Phi ASF tong dan lợn của cả nước là trên 22,2 triệu con giam 18,5%, trong đó đàn nái là 3,2 triệu con giảm khoảng 20%, kéo theo tông sản lượng thịt lợn hơi xuất chuông là 2,1 triệu tấn giảm 6,5% so với cùng kỳ 2018 (Sài Gòn Giải Phóng, 6/9/2019).
Nhu cầu sử dụng thịt lợn của người tiêu dùng ngày càng tăng. Vì vậy, để cung ứng đủ cho thị trường tiêu thụ tại Việt Nam và xuất khẩu ra thể giới, ngành chăn nuôi Việt Nam phải nỗ lực tái cơ cầu ngành, chuyên chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại. Theo ông Nguyễn Xuân Dương, Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết mục tiêu trong chiến lược đặt ra là phải tăng đàn lợn bình quân 2%/năm. trong đó tỉ trọng đàn lợn ngoại nuôi trang trại công nghiệp chiếm 37% (VietnamBiz, 25/10/2019).
Và đề thực hiện được mục tiêu trên, ngoài thực hiện phòng dịch nghiêm ngặt, chuyển đổi tích cực về quy mô chăn nuôi, áp dụng sự tiền bộ của khoa học kĩ thuật, nâng cao di truyén, tiễn bộ chọn lọc, cải tiến chế độ chăm sóc. thì việc nhập một số giống lợn ngoại có năng suất và chất lượng thịt tốt có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sản xuất chăn nuôi nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho người chăn nuôi. Trong thời gian qua nhà nước ta đã có nhập hàng loạt các giống lợn ngoại có năng suất cao như Yorkshire, Landrace,Pietrain, Duroc va duoc cac trang trại nhập nuôi. Từ đó áp dụng các phương thức lai tạo, nhân giống tạo ra con lai 2 máu, 3 máu nhằm nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái, sức sản xuất của lợn thịt và có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu chăn nuôi Việt Nam.
Một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn lai 2 máu (Landrace x Yorkshire) khi được phối bởi dòng đực Duroc. Lê Đình Phùng (2009); Lê Thị Mén (2015) sử dụng đực Duroc phối với lợn cái lai F¡ (Yorkshir x Landrace) hay Fi (Landrace x Yorkshire) tạo con lai ba máu có khả năng sinh trưởng nhanh, chịu đựng stress, ty 16 nạc cao, phẩm chất thịt tốt. Ngoài ra, công thức này còn được nghiên cứu rất nhiều trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp ở các tỉnh khác nhau. Tuy nhiên, việc nghiên cứu ở tỉnh Khánh Hòa vẫn còn hạn chế.
Vì vậy, để có cơ sở khuyến cáo người chăn nuôi miền Trung nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng sử dụng giống lợn lai 2 máu (Landrace “ Yorkshire) và dòng đực Duroc làm giống lợn chính cho sản xuất, tôi đã tiễn hành nghiên cứu đề tài về “Đánh giá khá năng sinh sản của lợn nải lai F1 (Landrace x Yorkshire) phối với lợn đực Duroc nuôi tại trại Ngọc Khang của công ty cỗ phần chăn nuôi CP Việt Nam ở thôn Prí, xã Ea Wer, huyện Buôn Đôn, tinh Dak Lak. Mục tiêu của đề tài Đánh giá được khả năng sinh sản của lon nai lai Fl (Landrace x Yorkshire) duoc phối tĩnh lợn đực Duroc (thông qua các chỉ tiêu trên lợn mẹ và cả trên lợn con). Trên cơ sở đó, cung cấp tư liệu cho trại Ngọc Khang và công ty cỗ phần chăn nuôi CP Việt Nam đánh giá đúng thực tế sản xuất và các yêu tô ảnh hưởng để cải thiện sức sinh sản của đàn lon nai. CHUONG I: TONG QUAN TAI LIEU 1.1 DOI NET VE DIA DIEM THUC TAP 1.
Điều kiện tự nhiên, vi trí địa lý. Trại Ngọc Khang nằm ở thôn pri xã Eawe huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk lăk. trại cách khu dân cư 500m. Xã Ea Wer là một xã thuần nông với tỷ lệ dân làm nông nghiệp chiếm hơn 80% dân số.
Địa bàn phức tạp, nam doc theo tinh 16 1, có vị trí địa lý như sau: + Phía Đông giáp xã Tân Hoà, huyện Buôn Đôn. + Phia Nam giap huyén CuJut — Dak Nông. + Phia Tay giap x4 EaHoar, huyện Buôn Đôn. + Phía Bắc giáp huyện CuMgar.
Về điều kiện địa bàn xã năm tiếp giáp với khu vực rừng, điều kiện về nguồn nước khá thuận lợi. Chính vì vậy đồng hành với định hướng sản xuất nông nghiệp thì định hướng trong việc phát triển kinh tế cho nhân dân về chăn nuôi cũng là một giải pháp chính và bên vững. Những thuận lợi và khó khăn của trang trại. Thuận lợi + Trang trại mới ,trang thiết bị còn mới , hoạt động ôn định.
+ Trang trại cách xa khu dân cư, đường quốc lộ giúp giảm nguy cơ mắc dịch bệnh và ô nhiễm khu dân cư. + Chuồng trại được thiết kế theo kiểu khép kín tạo được tiểu khí hậu chuồng TUÔI tách biệt với bên ngoài giúp chủ động trong việc kiểm soát khí hậu. + Trại được trang bị hệ thong may phat điện phòng khi điện có vấn đề trục trac + Có hệ thông xử lí phân, lợn chết bằng hầm biogas. + Khu cách ly nằm cuối hướng gió hạn chế dịch bệnh có thé lây lan.
+ Tắm sát trùng trước khi vào trại để hạn chế nguồn bệnh. Khó khăn + Nguồn lao động còn thiếu, công nhân trình độ còn thấp và tay nghề chưa cao. + Số lượng công nhân hông ỗn định, mất thời gian trong việc đào tạo công nhân mới. + Đường đi vào trại khi vào mùa mưa lầy nhiều khó khăn cho việc vận chuyên lợn, cảm.
TINH HiINH CHAN NUÔI LỢN TREN THE GIOI VA VIET NAM 1. Tình hình chăn nuôi ở thế giới Nghé chăn nuôi lợn ra đời rất sớm. Cách đây một vạn năm chăn nuôi lợn đã xuất hiện và phát triển ở chấu Au va A, Sau 46, khoang thé ky XVI, bat dau phat trién 6 châu Mỹ và thế kỷ XVIIT phát triển ở châu Úc. Đến nay, nuôi lợn đã trở thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia.
Ở nhiều nước, chăn nuôi lợn có công nghệ cao và có tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mach, Thụy Điện, Đức, Ý, Úc, Trung Quốc, Xing-ga-pho, Đài Loan. Nói chung ở các nước tiên tiên có chăn nuôi lợn phát triển lợn theo hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao. Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bố không đồng đều ở các châu lục. Có tới 70% số đầu lợn được nuôi ở châu Á và Âu, khoảng 30 % ở các châu lục khác.
Trong đó, tỷ lệ đàn lợn được nuôi nhiều ở các nước có chăn nuôi lợn tiên tiễn. Nơi nào có nhu cầu thịt lợn cao, nơi đó nuôi nhiều lợn. Tính đến nay chăn nuôi lợn ở các nước châu Âu chiếm khoảng 52%, châu Á 30,4%, châu Úc 5,8%, châu Phi 3,2 %, châu Mỹ, 8,6 %. Năm 2020, thị trường chăn nuôi lợn thê giới bị thiệt hại khá nặng nề khi chịu tác động từ cả dịch tả lợn châu Phi (ASF), vẫn đang lây lan tại nhiều châu lục, và đại dịch COVID-19 làm gián đoạn chuỗi cũng ứng toan cầu.
Hoạt động sản xuất và xuất khâu bị gián đoạn nhiều tại Mỹ và các quốc gia châu Âu, nơi dịch COVID-I9 diễn biến nghiêm trọng, nhưng điều này cũng không ảnh hưởng tới nhu cầu thịt lợn gia tăng tại một số quốc gia bi ánh hưởng bởi dịch ASF như Trung Quốc. Về tình hình sản xuất, các quốc gia lớn có xu hướng giảm hơn so với năm 2019, cụ thé: Tại Anh, dữ liệu mới nhất từ Defra cho thấy quốc gia này đã sản xuất 83.900 tân thịt lợn trong tháng 11/2020, giảm 29% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, sản lượng trong 11 8 tháng đầu năm vẫn tăng 2% so với cùng kỳ lên 898. Tháng 11, tông lượng lợn giết mỗ đạt 908.700 con, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2019 và giảm 7% so với thang 10/2020.
Tại Đức, nhà sản xuất thịt lợn hàng đầu châu Âu và đang bị ảnh hưởng bởi dịch ASF, s6 lon tinh đến ngày 3/11 đạt 26 triệu con, gần như không thay đổi so với cùng kỳ năm 2019, theo dữ liệu từ Văn phòng Thống kê Liên bang Đức. Tuy nhiên, đàn lon nai của quốc gia này lại giảm 5% xuống còn l,7 triệu con.Trong khi đó, đàn lợn tại Mỹ giảm nhẹ trong tháng 12 sau khi tăng trưởng 6 năm liên tiếp, theo dữ liệu mới nhất từ USDA. Tính đến ngày 1/12, tổng đàn lợn cả nước đạt 77,5 triệu con, giảm 1% so với cùng kỳ năm 2019. Trong giai đoạn tháng 9-L 1/2020, sản lượng lợn đã giảm 1% so với năm 2019 xuống 35 triệu con.
Tổng số lợn nái đẻ trong giai đoạn này là 3,l6 triệu con, giảm 1% so với năm trước đó. Tình hình chăn nuôi lợn ở nước ta Trong năm 2019 do chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch tá lợn châu Phi, tính từ đầu tháng 2/2019 đến ngày 19/12/2019, dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 8.527 xã thuộc 667 huyện của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với tổng số lợn tiêu hủy gần 6 triệu con, tương đương với tổng trọng lượng 340,8 nghìn tân. Đến năm 2020, dịch ta lon chau Phi đã được kiêm soát khá tốt, tổng sô lợn bị tiêu hủy trong năm chỉ bằng 1,5% so với năm 2019. Day là nền tảng quan trọng để người chăn nuôi tái đàn, khôi phục đàn lợn như trước đây.
Tuy nhiên, những tháng đầu năm 2020, công tác tái đàn còn chậm do giá con giống vẫn ở mức cao, các hộ chăn nuôi không có đủ nguồn lực đề đầu tư tái đàn sau thời gian dài bị thiệt hại vì dịch bệnh, việc tái đàn chủ yếu ở các cơ sở chăn nuôi lớn có đủ nguồn lực, chủ động được con giống. Đây là nguyên nhân chính khiến việc tái đàn của người dân không thê nhanh như kỳ vọng. Ước tính tông số lợn của cả nước tháng 12 năm 2020 tăng khoảng 17% so với cùng thời điểm năm 2019: sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng cả năm 2020 ước đạt 3.474,9 nghìn tan, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2019 (quý IV ước đạt 991,8 nghìn tan, tang 30%). So 9 với năm 2018 (năm không bị dịch tả lợn châu Phi), sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng cả năm 2020 giảm 9% và sản lượng quý IV tương đương cùng kỳ năm 2018.