Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm của cỏ yến mạch (Avenna sativa) 1. Nguồn gốc và phân bố Cỏ Yến mạch (Avenna sativa) thuộc họ lúa, có nguồn gốc từ Trung Đông. Phân bố rộng ở các nước nhiệt đới trên thế giới.
Vùng được trồng phổ biến và có hiệu quả cao nhất là ở những vùng đất khô, mùa đông lạnh. Trên thế giới cỏ Yến mạch không những phục vụ tốt cho nhu cầu chăn nuôi mà nó còn là giải pháp có thể tạo ra lượng thức ăn lớn cho gia súc. Cỏ Yến mạch chậm phát triển hoặc gần như không phát triển trong mùa hè. Nhưng ngược lại, trong điều kiện mùa đông thời tiết khí hậu lạnh, có sương muối giống cỏ này phát triển rất mạnh [100].
Ở Việt Nam cỏ Yến mạch (Avenna sativa) được coi là một trong những cây hòa thảo có tiềm năng, được trồng ở các nông trường, trại chăn nuôi trâu bò sữa. Cỏ Yến mạch (Avenna sativa) được nhập vào nước ta từ nhiều nguồn khác nhau thông qua các dự án, chương trình hợp tác trong và ngoài nước. Hiện nay Cỏ Yến mạch (Avenna sativa) phát triển ở nhiều nơi, nước ta chủ yếu là trồng cỏ Yến mạch (Avenna sativa) loại lá nhỏ [5]. Đặc điểm thực vật học Cây cỏ Yến mạch có kích thước từ 70 - 130 cm, thân rỗng thẳng, lá giống lưỡi kiếm thẳng, gốc thẳng nhiều lá rộng khoảng 1 - 1,2 cm, cụm hoa nhỏ chứa hạt, hoa hình chóp trong có nhiều bông nhỏ, đầu bông nở hoa, khi hoa tàn ngọn kết thành hạt như lúa.
Thành phần chất có trong Avena Sativa bao gồm: saponin, alkaloid, sterol, flavonoid, acid silicic, tinh bột, protein (bao gồm gluten), vitamin (đặc biệt là vitamin B) và các chất khoáng (đặc biệt là calci). Chúng được trồng như ngũ cốc hoặc các lá trên thân cỏ. Nó được thu hoạch toàn bộ hoặc thu hoạch trước khi bông chín và được sử dụng làm thực c 4 phẩm ở nhiều dạng khác nhau. Cỏ Yến Mạch được sử dụng làm thức ăn gia súc bởi đặc tính thân mềm, ngọt dễ tiêu hóa mà động vật rất ưa chuộng.
Hơn thế nữa, nó là loại thức ăn lí tưởng cho gia súc bởi có chứa hàm lượng vitamin A thấp nhưng giàu protein hơn các loại cỏ thông thường khác. Năng suất chất xanh dao động từ 35 - 60 tấn/ha, chu kỳ cắt là 40 - 55 ngày/lứa. Vật chất khô 14 - 18%, đạm thô 18 - 22%. Vì vậy có thể nói Yến Mạch không những giải quyết một số lượng lớn nhu cầu thức ăn của gia súc mà còn là nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc sản suất sữa, thịt… [100] 1.
Đặc điểm sinh thái Cỏ Yến mạch thích nghi với điều kiện khí hậu lạnh ôn đới, năng suất cao và giá trị dinh dưỡng tốt, không đòi hỏi cao đối với đất trồng. Ngay cả loại đất mà các giống lúa khác không mọc được thì yến mạch vẫn có thể sinh sống được. Ngoài việc chịu rét thì Yến mạch còn có thể chịu điều kiện khô hạn. Cỏ Yến mạch có bộ rễ khỏe, ăn sâu nên có khả năng chịu hạn tốt thích hợp với vùng có lượng mưa khoảng 890 mm trở lên.
Nhiệt độ thích hợp trung bình năm thấp 18 - 200C nhưng mọc tốt trong khoảng nhiệt độ từ 15 - 250 C. Tác dụng của Yến mạch Không chỉ làm thức ăn cho gia súc mà hạt yến mạch được biết coi yến mạch là một trong những loại lương thực quan trọng của loài người. Cây Yến mạch nổi tiếng là cây ngũ cốc giàu chất dinh dưỡng, chúng có lợi cho sức khỏe theo nhiều cách sử dụng khác nhau. Cám cây yến mạch làm giảm hàm lượng cholesterol, ăn kiêng bằng cây yến mạch có thể tăng cường thể lực.
Cây yến mạch và rơm yến mạch nói riêng là thuốc bổ khi dùng làm thuốc. Các nhà thảo dược dùng rơm cây yến mạch để chữa suy nhược cơ thể và các bệnh về thần kinh. Hạt và rơm có tác dụng chống suy nhược nhẹ, tăng cường năng lượng và hỗ trợ cho hệ thần kinh quá căng thẳng. Khi dùng ngoài da cây yến mạch có tác dụng làm mềm và tẩy sạch các tế bào chết, thuốc sắc lọc để tắm có thể giúp làm dịu bệnh ngứa và bệnh chàm bội nhiễm.
Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc tính sinh trưởng của thân và lá Sau khi nẩy mầm, khối lượng vật chất khô (VCK) của hạt sẽ giảm dần. Do chất dự trữ ở hạt được sử dụng cho quá trình nẩy mầm nên sinh trưởng lúc này chậm. Khi lá xanh xuất hiện, cây non bắt đầu hoạt động quang hợp, sự sinh trưởng bắt đầu tăng dần. Đến gần giai đoạn trưởng thành thì sinh trưởng giảm dần và ngừng hẳn, cũng có khi ở giai đoạn này khối lượng VCK của cây bị giảm đi.
Lá non của cỏ non phát triển từ lá chồi mầm tạo ra ở đỉnh mô phân sinh, hầu hết các tế bào của lá được cấu tạo trong khi lá còn rất nhỏ trong chồi. Kết quả sinh trưởng của lá là sự mở rộng của kích cỡ tế bào và tăng khối lượng. Lá mới sinh lấy cacborhydrate từ rễ, thân hay từ lá già cho tới khi chúng hoàn thiện. Do sự đòi hỏi của sinh trưởng nên chúng đồng hóa các sản phẩm dự trữ được từ rễ, lá, gốc để hình thành lá mới.
Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của thân, lá Có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cỏ như giá trị của phẩm chất giống hay các yếu tố khí hậu, thời tiết, đất đai. trong các yếu tố đó, thì ánh sáng, nhiệt độ, nước và chất dinh dưỡng có trong đất là các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới đời sống của cỏ. Sức nẩy mầm của cỏ (hạt) Sự sinh trưởng của cỏ phụ thuộc vào sức nảy mầm của hạt, hạt có sức nẩy mầm cao sẽ tạo điều kiện tốt cho sinh trưởng sau này. Sức nẩy mầm của giống không những phụ thuộc vào bản thân hạt mà còn phụ thuộc vào sự chuẩn bị các điều kiện cần thiết trước khi gieo giống của con người, điều kiện đất đai và khí hậu.
Đối với các giống cỏ dùng hom cũng vậy, những đoạn hom đầu có tỷ lệ nẩy mầm cao nhất, khi tăng số đốt của hom sẽ tăng tỷ lệ nẩy mầm, tuy nhiên từ đốt thứ 3 trở đi thì tỷ lệ nẩy mầm giảm xuống đột ngột. Trong thời kỳ nẩy mầm của hạt giống, thì phạm vi nhiệt độ của đất và không khí từ 15 - 250C là thuận lợi cho cỏ sinh trưởng và phát triển. Nhìn c 6 chung, khi nhiệt độ tăng lên làm rút ngắn rất nhiều thời gian từ khi gieo hạt tới khi mọc mầm. Tuy nhiên, khi nhiệt độ tăng hoặc giảm quá ngưỡng chịu đựng của cây, có thể làm cho cây non thiếu chất tạm thời và ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng về sau.
Nhiệt độ Tất cả quá trình sinh lý thực vật đều bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ (Salisbury và Ros, 1969) [82]. Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây, nhiệt độ tăng (nằm trong nhiệt độ giới hạn) thì sinh trưởng tăng và khi nhiệt độ giảm thì sinh trưởng chậm lại. Nếu tăng nhiệt độ tới giới hạn nhất định có tác dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ (Trịnh Xuân Vũ và Lê Doãn Diên, 1976) [29]. Theo Bogdan, (1977) [42] nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt đới nẩy mầm là 15 - 200C và tối ưu là 25 - 350C.
Nhiệt độ tối ưu cho cỏ ôn đới quang hợp là 15 - 200C và cỏ nhiệt đới là 30 - 400C. Sự hình thành diệp lục bắt đầu khi nhiệt độ lớn hơn 10 - 150C. Cây thức ăn gia súc sinh trưởng tốt nhất trong biên độ nhiệt độ ban ngày hẹp từ 7,20C - 350C. Nhiệt độ thích hợp cho cây đẻ nhánh con của cỏ nhiệt đới thường nhỏ hơn nhiệt độ thích hợp cho nhánh sinh trưởng (Cooper và Taiton, 1968) [48].
Ở nhiệt độ thấp dưới 100C cây cỏ nhiệt đới có hiện tượng úa vàng, chết, do diệp lục bị phá hủy. Chính vì vậy, ở các vùng núi cao và xa xích đạo thì giá lạnh và sương muối là yếu tố giới hạn đối với các giống cây thức ăn có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới (McWilliam, 1978) [68]. Hầu hết cỏ hòa thảo có nhiệt độ tối thích hợp cho sinh trưởng khoảng 200C, nhưng vẫn có thể sinh trưởng ở nhiệt độ thấp hơn (Cooper và Taiton, 1968) [48]. Giới hạn về nhiệt độ của các loài thực vật khác nhau là khác nhau.
Trong khoảng nhiệt độ từ 0 - 350C, nhiệt độ không khí cứ tăng lên 100C có thể làm cho quá trình sống của thực vật tăng 1 - 2 lần. Khi nhiệt độ tăng quá 350C, quá trình sống giảm đi hoặc ngừng hẳn, còn khi nhiệt độ từ 40 - 500C, c 7 quá trình sống ngừng hoàn toàn. Dưới ảnh hưởng lâu dài của nhiệt độ cao (chưa vượt qua ngưỡng cao nhất) thực vật phát dục rất nhanh và phát dục này là không bình thường. Nếu ảnh hưởng đúng vào thời kỳ sinh trưởng thì thực vật còi cọc, khí quan dinh dưỡng phát triển không tốt, hoa nở sớm, sản lượng thấp.
Nhìn chung, khi nhiệt độ giảm xuống hay tăng lên quá nhiều thì thực vật bắt đầu chết từng bộ phận hay chết hoàn toàn. Ở nhiệt độ thích hợp nhất, thực vật sinh trưởng vừa nhanh lại vừa tốt. Nếu nhiệt độ tăng, tỷ lệ tiêu hóa được của cỏ và tỷ lệ cacbohydrate phi cấu trúc giảm, nhưng thường thì tỷ lệ chất khoáng và protein tăng (Smith, 1970) [87]. Vì vậy, nhiệt độ hay thời gian thu hoạch cỏ trong năm sẽ ảnh hưởng tới giá trị dinh dưỡng của thức ăn (Harris, 1978) [57]; (Marten, 1970) [67].
Nước Nước là yếu tố cần thiết không thể thay thế cho sự sinh trưởng của cây. Cây sinh trưởng mạnh nhất khi tế bào bão hòa nước. Giảm mức độ bão hòa thì tốc độ sinh trưởng chậm lại. Vì vậy, mùa mưa lượng nước được đảm bảo nên cỏ sinh trưởng mạnh, còn mùa khô thì ngược lại.
Vì vậy, cần phải tưới nước cho cỏ vào mùa khô. Ẩm độ hay lượng nước trong đất có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống cây trồng. Đây là yếu tố cần thiết, căn bản, không thể thay thế trong đời sống cây trồng. Lượng nước trong đất ít hay nhiều đều ảnh hưởng tới độ thoáng khí của đất và việc cung cấp dinh dưỡng, chế độ quang hợp, chế độ thoát hơi nước để thực vật không bị quá nóng.
Điều đó ảnh hưởng tới năng suất, sinh trưởng và chất lượng cây trồng (Xi-Nen-Si-Cốp, 1963) [30]; (Nguyễn Đức Quý và Nguyễn Văn Dũng, 2006) [24]. Nước còn quy định sự điều hòa nhiệt độ từ đất và thực vật thông qua hiện tượng bốc hơi và phát tán.