CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Những nghiên cứu về năng lực thế giới Trong tác phẩm "Lịch sử giáo dục thế giới" chủ biên bởi Hà Nhật Thăng đã được đề cập rằng, A.
Machiukin đã phát triển các bài tập nhận thức, đặc biệt là các bài tập đặt câu hỏi, để giúp HS tăng cường tính nhận thức tích cực và đạt được thành tích cao trong quá trình học tập. (Hà Nhật Thăng, Lịch sử Giáo dục thế giới, NXB Hà Nội, 1998) Trong thập kỷ 1930 của thế kỷ XX, Tsunesaburo Makiguchi (1871-1944), một nhà giáo dục tiên phong tại Nhật Bản, đã đề xuất những tư tưởng giáo dục mới. Trong cuốn sách "Giáo dục vì Cuộc sống Sáng tạo" xuất bản bởi Nhà Xuất bản Trẻ vào năm 1994, có trích dẫn quan niệm của ông rằng giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học, với động cơ chính là khuyến khích HS sáng tạo để tạo ra giá trị, nhằm đạt được hạnh phúc cho bản thân và cộng đồng. Goroxepxki đã sáng tác cuốn sách có tựa đề "Tổ chức Công việc Tự học của Sinh viên Đại học" dựa trên việc tổng hợp những kinh nghiệm cá nhân của mình trong việc tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên tại các trường đại học.
Tác giả đã đưa ra đề xuất về phương pháp học tập cho sinh viên đại học, tập trung vào một số vấn đề quan trọng bao gồm: lắng nghe và ghi chú bài giảng; đọc và tóm tắt tài liệu; chuẩn bị Xemina; thực hiện các bài tập nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp; chuẩn bị cho các kỳ thi và bài kiểm tra; tổ chức các hoạt động tư duy và lập kế hoạch làm việc.Côvaliôp, Tâm lý học cá nhân, 1971) Trong tập sách "Phát huy Tính Tích Cực của HS như Thế Nào" được xuất bản bởi Nhà Xuất bản Giáo Dục vào năm 1978, tác giả I. Kharlamop đã xác định vai trò quan trọng của tự học trong việc tăng cường tính tích cực của hoạt động trí tuệ của HS thông qua việc hiểu và tiếp thu tri thức mới. Tác giả đã đề 6 xuất rằng quá trình tiếp nhận kiến thức mới không thể diễn ra thông qua việc đơn giản ghi nhớ các quy tắc, kết luận và tổng quát, mà nó cần được xây dựng trên cơ sở cải thiện khả năng tự học của HS, khả năng phân tích tài liệu và sự kiện, là nền tảng cho việc hình thành các khái niệm khoa học. Ông tác giả cũng nêu rõ cần tăng cường việc nghiên cứu và làm việc với sách giáo trình, tài liệu học tập, đưa ra vấn đề trong quá trình giảng dạy, và đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá.
(Kharlanop, 1978) Vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, Robert Z. Sternberg và Wendy M. Williams (1996) đã tiếp tục thực hiện các nghiên cứu và viết bài về tư duy sáng tạo và phát triển sáng tạo. Vào năm 1996, trong cùng một thời kỳ, Giáo sư tâm lý học Howard Gardner của Đại học Harvard (Hoa Kỳ) đã khám phá khái niệm năng lực bằng cách phân tích bảy khía cạnh biểu hiện của trí tuệ con người: ngôn ngữ, logic toán học, âm nhạc, không gian, thể thao, giao tiếp và cảm xúc.
Ông đã khẳng định rằng mỗi khía cạnh của trí tuệ cần phải được thể hiện dưới dạng sự sáng tạo hoặc biểu hiện cao cấp. Để giải quyết một vấn đề thực tế trong cuộc sống, con người không thể chỉ dựa vào một khía cạnh cụ thể của trí tuệ mà phải kết hợp nhiều khía cạnh liên quan với nhau. Sự kết hợp này tạo thành năng lực cá nhân.Gardner đã kết luận rằng năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có khả năng đánh giá hoặc đo lường. (Nguyễn Công Khanh, 2014) Dựa trên các nghiên cứu của các nhà tâm lý học và giáo dục học, ta nhận thấy rằng việc giảng dạy định hướng đến phát triển năng lực tổng quát cũng như các năng lực đặc thù cho từng môn học đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu và xây dựng thành một hệ thống lý thuyết chặt chẽ.
Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng việc phát triển năng lực cho HS nói chung và năng lực TNVMHH nói riêng đóng vai trò cực kỳ quan trọng và có tác động lớn đến sự thành công của quá trình giảng dạy và đào tạo. Những nghiên cứu về năng lực vật lí ở Việt Nam Trong những năm gần đây các nghiên cứu về dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực TNVMHH cho HS đang được quan tâm nghiên cứu: Nhằm đưa ra một hệ thống tương đối hoàn chỉnh và có hệ thống những khái niệm như dạy học phát triển năng lực, dạy học phát triển năng lực vật lí, năng lực TNVMHH… nhóm tác giả (Đỗ Hương Trà, Nguyễn Văn Biên, Tưởng Duy Hải, Phạm Xuân Quế, Dương Văn Quý, 2019) đã hoàn thành mục tiêu đó. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã đưa ra những yêu cầu cần có trong dạy học phát triển năng lực vật lí, năng lực TNVMHH ở HS. Các tác giả đã trình bày một cách chi tiết và khoa học những nội dung về kiểm tra đánh giá năng lực, năng lực vật lí, năng lực TNVMHH cũng như xây dựng bộ công cụ kiểm tra đánh giá sự phát triển năng lực vật lí, năng lực TNVMHH ở HS.
Năng lực TNVMHH có vai trò tương đối quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển năng lực của HS tác giả (Quách Nguyễn Bảo Nguyên, Nguyễn Hoàng Anh, 2015). Hai tác giả cho rằng năng lực TNVMHH có khả năng góp phần hình thành và phát triển toàn diện HS. Bên cạnh đó, bài báo đưa ra một số phương pháp nhằm khuyến khích sự phát triển năng lực thực hành thí nghiệm của HS bậc trung học phổ thông. Khi nghiên cứu các phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực TNVMHH cho HS, tác giả (Lê Chí Nguyện, 2021) đã đề xuất phương pháp dạy học STEM.
Tác giả đã trình bày một cách tương đối đầy đủ và có hệ thống tiến trình dạy học STEM, cách thức sử dụng Rubrics, kết hợp chấm điểm sản phầm của bài học nhằm đánh giá năng lực của HS. Ngoài ra, tác giả cũng trình bày tương đối đầy đủ từ khâu tổ chức lớp học, quy trình xây dựng, tổ chức dạy học cũng như kiểm tra đánh giá kết quả bài học theo phương pháp STEM nhằm phát triển năng lực vật lí cho HS. 8 Khi nghiên cứu về những luận văn thạc sĩ trong phạm vi liên quan tới luận văn tôi nhận thấy: Đa số các luận văn tập trung trình bày một cách hệ thống các khái niệm về năng lực chung, năng lực chuyên biệt, năng lực thực nghiệm. Nghiên cứu cách thức tổ chức học tập và đánh giá sự phát triển năng lực TNVMHH của HS thông qua các bài thực hành thí nghiệm trên lớp hoặc nghiên cứu những tiến trình dạy học có sử dụng thực hành thí nghiệm và mô hình hóa nhằm góp phần phát triển năng lực TNVMHH.
Luận văn chưa quan tâm đến việc sử dụng những phương pháp đánh giá tích cực trong đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực của HS. Trong đó có các luận văn của các tác giả như: Nguyễn Thị Thu Hoài năm 2012, Chu Đình Đức năm 2015, Đặng Thị Linh năm 2015, Võ Thị Kim Tước năm 2016, Trần Thị Hải Lành năm 2017. Một số luận văn tập trung vào việc trình bày các tiến trình tổ chức giờ học thực hành mà không quan tâm tới phương pháp và cách thức đánh giá sự hình thành phát triển năng lực TNVMHH như luận văn của tác giả Võ Thị Kim Tước năm 2017. Qua một số nghiên cứu và luận văn thạc sĩ ở trên có thể nhận thấy: những công trình này phần lớn tập trung vào việc xây dựng quy trình, cách thức tiến hành tổ chức dạy học các tiết học mà chưa thực sự quan tâm đến việc tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả hình thành và phát triển năng lực TNVMHH ở HS.
Những báo cáo này chưa đưa ra được quy trình xây dựng bộ công cụ đánh giá, cách thức tiến hành đánh giá… sự phát triển năng lực TNVMHH của HS khi học bộ môn Vật lí bậc THCS nói chung cũng như môn học KHTN 6 nói riêng. Kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trên tôi sẽ tập trung xác định những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến chất lượng dạy học phần kiến thức này. Nghiên cứu cơ sở lý luận, tiến hành thiết kế và tổ chức thực nghiệm sư phạm việc xây dựng bộ công cụ đánh giá sự phát triển năng lực TNVMHH của HS khi học môn KHTN 6. Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 1.
Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực được nhiều tác giả đề cập đến và diễn đạt hiểu dưới nhiều cách khác nhau, như: Theo A.Côvaliôp, “Năng lực đề cập đến một sự kết hợp hoặc tổng hợp các đặc điểm của cá nhân, để đáp ứng các yêu cầu công việc và đảm bảo rằng hoạt động sẽ đạt được kết quả cao”.Côvaliôp, Tâm lý học cá nhân, 1971) Xavier Roegiers đã định nghĩa năng lực là “việc tích hợp các kỹ năng tự nhiên tác động vào các nội dung trong các tình huống đã cho trước để giải quyết các vấn đề xuất phát từ tình huống đó”. (Roegiers, 2011) Theo Phạm Minh Hạc, “Năng lực là một sự kết hợp tâm lý của cá nhân, tổ hợp này hoạt động với một mục tiêu cụ thể để tạo ra kết quả trong một hoạt động nhất định”. (Phạm Minh Hạc, 1997) Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, định nghĩa về năng lực được trình bày như sau: "Năng lực là bản chất cá nhân, tiến hóa qua tố chất tự nhiên và quá trình học tập, đào tạo, cho phép cá nhân tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, và các đặc điểm cá nhân đa dạng như sự quan tâm, lòng tin, và ý chí,. để thực hiện một loạt hoạt động cụ thể thành công và đạt được kết quả mong muốn trong các tình huống cụ thể".
(Bộ GD-ĐT, 2018) Dựa vào những trích dẫn trên, mặc dù các tác giả sử dụng cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau, nhưng chưa có sự thống nhất trong một số khái niệm về năng lực: - Sự phát triển và tồn tại của năng lực được thể hiện thông qua việc tham gia vào các hoạt động. Nói về năng lực, chúng ta đang ám chỉ đến khả năng của mỗi người để hoàn thành một hoạt động cụ thể. 10 - Năng lực được biểu hiện và quan sát thông qua hoạt động, và liên quan đến tính sáng tạo trong hành động, mang tính mới mẻ và linh hoạt. - Năng lực chỉ có thể phát triển thông qua rèn luyện.