CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO KHUNG AN TOÀN CAMEL. Các tiêu chí đánh gía năng lực tài chính NHTM theo khung an toàn Camel. Giới thiệu mô hình Camel CAMEL - Hệ thống do cục Quản Lý các TCTD Hoa Kỳ NCUA (National Credit Union Administration) xây dựng, đánh giá toàn diện Ngân hàng thông qua độ an toàn, khả năng sinh lời và tính thanh khoản. Hệ thống CAMEL được thành lập từ những năm 70 của thế kỷ XX, bắt nguồn từ Mỹ.
Trước đây, Việt Nam không áp dụng trực tiếp CAMEL, cho đến khi thành lập quy chế xếp loại các TCTD Việt Nam (1998) thì CAMEL đã được công nhận. Tại sao là mô hình Camel? Một là, cung cấp một khuôn khổ chung trong việc đánh giá hiệu suất tổng thể của các ngân hàng là rất quan trọng do sự hội nhập ngày càng tăng của thị trường tài chính toàn cầu. Muhammad (2009) cho rằng "sức mạnh của những yếu tố này sẽ quyết định sức mạnh tổng thể của ngân hàng". Hai là, tóm tắt các thông tin tuân thủ cần thiết cho các nhà quản lý.
Đồng thời hỗ trợ họ giám sát và phản ứng trước các cảnh báo, kịp thời để giảm thiểu những tác động bất lợi đối với các ngân hàng. Cụ thể, trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, sự đánh giá này đã được sử dụng bởi phản ứng của chính phủ Mỹ với cuộc khủng hoảng, quyết định giúp đỡ các ngân hàng cần sự trợ giúp đặc biệt. Ba là, mô hình CAMEL vẫn còn rất nhiều phổ biến. Đến nay, được áp dụng như một công cụ hiệu quả tìm hiểu cơ hội hoặc rủi ro khi đầu từ vào các ngân hàng.
Phân tích mô hình CAMEL dựa trên năm khía cạnh truyền thống được xem là quan trọng nhất trong hoạt động của một trung gian tài chính. Năm lĩnh vực phản 9 ánh các điều kiện tài chính và khả năng hoạt động nói chung của một NHTM: mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy), chất lượng tài sản (Asset Quality), trình độ quản lý (Management competence), khả năng sinh lời (Earnings ability), khả năng thanh khoản (Liquidity ability). Kết quả nghiên cứu để đánh giá năng lực tài chính của SHB. Từ đó, các nhà quản lý ngân hàng cũng như các đối tác bên ngoài biết được thực trạng năng lực tài chính của ngân hàng và có quyết định phù hợp.
(The United States. Uniform Financial Institutions Rating System 1997, tr.1; Chuyên san kinh tế- tài chính ngân hàng, số 07, tháng 09/2013, tr. Các tiêu chí đánh giá năng lực tài chính theo khung Camel 1. Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy) Là khả năng tự cân đối vốn khi đối mặt các rủi ro dẫn đến các thiệt hại có xảy ra ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng.
Đây là phần vốn chủ sở hữu của NHTM và khả năng của NHTM đáp ứng các món vay ngày càng mở rộng cũng như các định hướng phát triển tài sản tiềm năng mà NHTM cần đạt được. Hệ thống phân tích CAMEL xem xét khả năng của NHTM trong việc huy động thêm vốn chủ sở hữu trong trường hợp thua lỗ. Và việc "Đáp ứng yêu cầu về vốn tối thiểu theo luật định và duy trì một mức độ đủ vốn là những yếu tố quan trọng trong việc quyết định sự an toàn vốn" (The United States. Uniform Financial Institutions Rating System 1997, tr.
Sự an toàn vốn được xem xét dựa trên ba tiêu chí sau: Một là, quy mô vốn chủ sở hữu: thể hiện khả năng tài chính, năng lực hoạt động của một ngân hàng. Vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô mở rộng mạng lưới kinh doanh cũng như quy mô hoạt động của NHTM: Khả năng huy động vốn, khả năng mở rộng tín dụng, dịch vụ, khả năng đầu tư tài chính, trình độ trang bị công nghệ. 10 Tuy nhiên, phần lớn vốn chủ sở hữu là không sinh lời trực tiếp, chúng được ưu tiên tài trợ cho xây dựng trụ sở, phương tiện làm việc, đầu tư công nghệ. Phần còn lại của vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu lớn cho phép ngân hàng thành lập các công ty con và tham gia hoạt động đầu tư, liên doanh liên kết với các đối tác chiến lược, hùn vốn vào các công ty và có thể thôn tính các ngân hàng khác theo qui định không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ. (Rose, 2004) Tiêu chuẩn quốc tế quy định ngân hàng không được cho vay quá 15% vốn và thặng dư vốn đối với một khách hàng. Đối với các khoản vay được đảm bảo an toàn thì giới hạn này là 25%. Với mức vốn lớn đồng nghĩa với việc ngân hàng được phép cho vay những dự án lớn, từ đó làm tăng qui mô tín dụng và tăng qui mô tổng tài sản.
Từ đó thể hiện năng lực tài chính của Ngân hàng trên thị trường tài chính. Trên bảng cân đối của NHTM, vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản mục cơ bản: vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ. Trong đó, vốn điều lệ là vốn được ghi trong điều lệ ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn chủ sở hữu và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Hai là, tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu (-CAR): tỷ lệ an toàn vốn là một trong những tiêu chuẩn quan trọng trong việc đánh giá tổ chức tín dụng về mặt rủi ro kinh doanh cũng như NLTC, là tiêu chí thể hiện khả năng tự chủ của mỗi một NHTM để có thể đối phó thành công với rủi ro, đảm bảo hoạt động kinh doanh an toàn.
Hệ số này được tính theo tỉ lệ phần trăm của vốn tự có so với tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. Vốn tự có Tỷ lệ an toàn vốn (%) = × 100 Tổng tài sản "có" rủi ro Trong đó: Vốn tự có của ngân hàng bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2 11 - Vốn cấp 1 bao gồm: vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ và lợi nhuận không chia. - Vốn cấp 2 bao gồm: giá trị tăng thêm của tài sản cố định, chứng khoán đầu tư, trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và dự phòng chung. Tài sản "có" rủi ro được phân nhóm theo hệ số rủi ro: 0%, 20%, 50%, 100%.
Tiêu chuẩn đánh giá theo khung an toàn của Camel thì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, khi CAR >= 8% có thể cho thấy ngân hàng có mức vốn thích hợp, nếu CAR < 8% cho thấy ngân hàng đang thiếu vốn, với CAR < 6% cho thấy ngân hàng thiếu vốn rõ rệt và với CAR < 2% cho thấy ngân hàng thiếu vốn trầm trọng. Tuy nhiên, để thấy ngân hàng có mức vốn tốt khi CAR > 10%. (Chuyên san kinh tế- tài chính ngân hàng, số 07, tháng 09/2013, tr.10; Basel III) Ba là, hệ số đòn bẩy tài chính: Trong tình huống hệ số an toàn vốn không đổi nhưng hệ số đòn bẩy tăng cao báo hiệu rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống NHTM. Việc sử dụng đúng và hiệu quả thì nó có tác dụng tích cực cho ngân hàng như: Lá chắn thuế, tăng tỷ suất sinh lời cho vốn chủ sở hữu và đa dạng hóa được danh mục đầu tư.
Ngược lại, nếu sử dụng không thích hợp kém hiệu quả thì đòn bẩy tài chính có tác dụng như: làm giảm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và làm tăng nguy cơ phá sản cho ngân hàng. Hệ số này được tính như sau: Tổng nợ phải trả Hệ số đòn bẩy tài chính (lần) = Vốn chủ sở hữu Tiêu chuẩn đánh giá theo khung an toàn Camel hệ số này trung bình tại các NHTM là 12. Nếu hệ số này quá cao trong khi hệ an toàn vốn không đổi hoặc giảm cho thấy nguy cơ phá sản. Ngược lại, ở mức thấp hơn cho thấy ngân hàng chưa sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả.
12 (Chuyên san kinh tế- tài chính ngân hàng, số 07, tháng 09/2013, tr.11; Basel III) Tóm lại, để đánh giá mức độ an toàn vốn của một NHTM như thế nào sẽ thông qua các tiêu chí và điều kiện theo bảng 1. Phân tích mức độ an toàn vốn Chỉ tiêu Công thức Điều kiện - Tốc độ tăng vốn CSH Xu hướng tăng vốn CSH qua Vốn CSH = 20.000 các năm tỷ đồng - Tỷ lệ an toàn vốn tối CAR = Vốn tự có/ Tổng TS có CAR >= 8% rủi ro - Chỉ số đòn bẩy (L) L = Tổng nợ phải trả/ Vốn CSH L = TB = 12.5 lần Nguồn: AIA’s CAMEL Approach for Bank Analysis 1996 1. Chất lượng tài sản (Asset Quality) Là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về tài chính, năng lực quản lý của một NHTM Theo Grier (2007), "chất lượng tài sản kém là nguyên nhân chính của hầu hết các cuộc đổ vỡ ngân hàng". Một trong loại tài sản quan trọng nhất là danh mục cho vay; nguy cơ lớn nhất đối với các ngân hàng là rủi ro tổn thất cho vay có nguồn gốc từ các khoản vay quá hạn.
Các nhà phân tích tín dụng phải thực hiện việc đánh giá chất lượng tài sản bằng cách thực hiện việc quản lý rủi ro tín dụng và đánh giá chất lượng danh mục cho vay. Chất lượng tài sản được xem xét dựa trên ba tiêu chí sau: Một là, danh mục cho vay trên tổng tài sản: chỉ tiêu này được tính theo tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản [16,19] 13 Dư nợ Tổng dư nợ tín dụng ⁄ (%) = × 100 Tổng tài sản Tổng tài sản có Dư nợ là khoản ngân hàng cho vay, khoản cho vay chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản. Chỉ tiêu này lớn cho thấy khả năng cho vay của ngân hàng là rất tốt, tuy nhiên tỷ suất này quá lớn dẫn đến khả năng thanh khoản của NHTM giảm. Tiêu chuẩn đánh giá theo khung an toàn Camel thì tỷ lệ này phải <= 60%.
Hai là, tỷ lệ nợ quá hạn: là chỉ tiêu đo lường chất lượng khoản vay, được tính bằng cách lấy giá trị nợ nhóm 2,3,4,5 chia cho tổng dư nợ của các ngân hàng [16,19] Tổng dư nợ nhóm 2 + 3 + 4 + 5 Tỷ lệ nợ quá hạn (%) = × 100 Tổng dư nợ Dư nợ của ngân hàng chia thành năm nhóm: nhóm 1 là nhóm nợ đạt tiêu chuẩn, nhóm 2 là nhóm cần chú ý, nhóm 3 là nhóm dưới tiêu chuẩn, nhóm 4 là nhóm nghi ngờ và nhóm 5 là nhóm có khả năng mất vốn.