CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUA PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1.Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Theo nhà kinh tế học Peter S. Rose (1998), NHTM là nơi cung cấp đầy đủ nhất các sản phẩm tài chính: “Ngân hàng thương mại là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán đồng thời thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” Tại Việt Nam, theo khoản 3, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 quy định: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất và đơn giản nhất “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.” Hoạt động ngân hàng có liên quan đến hầu như tất cả các hoạt động trong nền kinh tế, từ hoạt động của cá nhân cho đến hộ gia đình rồi doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn. Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính được phép hoạt động kinh doanh đa dạng nhất trên thị trường.
Có thể tóm gọn các hoạt động của NHTM bao gồm: Hoạt động huy động vốn: là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt với nguồn vốn chủ sở hữu chiếm chưa đến 10% trong tổng nguồn vốn và nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng đến từ vốn huy động. Vì thế nên hoạt động huy động vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo nguồn để ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh. Hoạt động huy động vốn chủ yếu là nhận tiền gửi của cá nhân, tổ chức 6 dưới các hình thức có kỳ hạn, không kỳ hạn; phát hành giấy tờ có giá; vay vốn các TCTC khác và một vài hình thức khác. Hoạt động cấp tín dụng: đây là hoạt động chính tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.
Từ nguồn vốn huy động được ngân hàng đem cho vay và tái đầu tư trở lại nền kinh tế. Với các hoạt động cấp tín dụng chính bao gồm: cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của pháp luật. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: đây là hoạt động bổ trợ cho hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng của ngân hàng. Nhằm giúp khách hàng thực hiện các thanh toán nhanh hơn, thuận tiện hơn.
Bao gồm một số hoạt động như thu hộ, chi hộ, thanh toán quốc tế… Một số hoạt động khác: để cạnh tranh với các NHTM khác cùng với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, mở rộng thì phần bắt buộc các NHTM phải đa dạng hóa danh mục sản phẩm của mình. NHTM thường hoạt động thêm một số hoạt động sau: hoạt động đầu tư, ủy thác, hoạt động đại lý theo yêu cầu của khách hàng, hoạt động bảo hiểm. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006), hiệu quả (efficiency) là mối quan hệ giữa các đầu vào nhân tố khan hiếm và sản lượng hàng hóa dịch vụ.
Theo Vũ Trọng Nghĩa (2005), hiệu quả được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia, hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả mong muốn hoặc khả năng sản xuất ra sản lượng mong muốn. Xét trong góc độ của kinh tế học vĩ mô, hiệu quả đơn giản là không lãng phí. Một cách khái quát, hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để có thể đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí nhỏ nhất.
Đối với các doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động suy cho cùng đều là lợi nhuận. Tuy nhiên, hoạt động của NHTM mang tính đặc thù, đó là kinh doanh tiền tệ và luôn gắn liền với rủi ro. Do đó, lợi nhuận không phải là chỉ tiêu duy nhất và phản ánh toàn diện hiệu quả hoạt động của NHTM, mức độ rủi ro 7 trong kinh doanh cũng là yếu tố quan trọng vì hiệu quả hoạt động của ngân hàng luôn được xem xét trong mối quan hệ lợi nhuận – rủi ro. Như vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM là hiệu quả tổng hợp của toàn bộ hoạt động của NHTM, thể hiện ở tình hình lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng.
Một ngân hàng sẽ hoạt động an toàn và hiệu quả nếu mức độ rủi ro mà ngân hàng chấp nhận là hợp lý và kiểm soát được để đạt được mức lợi nhuận tương thích trong khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực kinh doanh của mình. Ngoài ra thì ngân hàng thương mại bao gồm nhiều loại hình nghiệp vụ khác nhau nên hiệu quả hoạt động của ngân hàng phải được xem xét trên cơ sở đánh giá từng mảng hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động huy động và sử dụng vốn. Bởi đây là các hoạt động cốt lõi của ngân hàng, đóng góp một tỷ trọng lớn nhất vào kết quả hoạt động kinh doanh và đương nhiên cũng đem lại rủi ro tiềm ẩn lớn nhất cho ngân hàng. Nguồn gốc hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Xuất phát từ khái niệm, NHTM có thể tạo ra hiệu quả kinh doanh theo một số cách: - Tối ưu hóa nguồn lực đầu vào: ngân hàng sẽ nỗ lực tìm kiếm các nguồn vốn, nhân lực và công nghệ với chi phí thấp hơn so với các ngân hàng khác, từ đó giảm được chi phí.
- Tối ưu hóa khả năng tiêu thụ (đầu ra): ngân hàng tìm được các nguồn khách hàng tốt, xây dựng các cách thức bán hàng hiệu quả cũng như các sản phẩm tối ưu hóa trải nghiệm và đem lại sự hài lòng cao cho khách hàng sử dụng… từ đó đẩy mạnh doanh thu. - Tối ưu hóa quá trình kinh doanh: ngân hàng sẽ xây dựng, thiết kế các mô hình kinh doanh cũng như cơ cấu tổ chức quản lý và các chính sách vận hành tối ưu để giảm được chi phí hoạt động cũng như nâng cao được năng suất làm việc. Từ đó vừa tối ưu được nguồn lực đầu vào cũng như nâng cao được khả năng tiêu thụ đầu ra. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Nhóm nhân tố khách quan - Môi trường kinh tế: ảnh hưởng đến khả năng tạo lợi nhuận, khả năng ổn định và phát triển bền vững của NHTM.
Bất cứ sự biến động nào của môi trường 8 kinh tế như lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tỷ giá… cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, đặc biệt là khả năng huy động vốn và hoạt động tín dụng của các NHTM - Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý bao gồm tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống pháp luật, các văn bản dưới luật, việc chấp hành luật và trình độ dân trí. Nếu hệ thống pháp luật được xây dựng không phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, theo triết học Mác- Lê nin thì tức là cơ sở hạ tầng (infrustructure) đang không phù hợp với kiến trúc thượng tầng (superstructure) thì sẽ tạo ra một rào cản lớn cho quá trình phát triển kinh tế. - Các yếu tố văn hóa, xã hội: gồm nhiều vấn đề mang tính lâu dài và chậm thay đổi như trình độ dân trí, văn hóa tiêu dùng, thói quen sử dụng tiền mặt, sự hiểu biết của người dân về hệ thống ngân hàng cũng như các sản phẩm của ngân hàng… đều có tác động không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Đây là những vấn đề liên quan đến việc xây dựng chiến lược hoạt động cũng như nghiên cứu, phát triển các sản phẩm dịch vụ có đặc điểm phù hợp.
- Các thay đổi về khoa học công nghệ: sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông đã tạo điều kiện cho việc nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí đầu vào, đẩy nhanh quá trình cung cấp các sản phẩm dịch vụ với chi phí thấp nhất, nhanh chóng và kịp thời, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. - Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường: Hiện nay, với sự phát triển của các công ty công nghệ - tài chính fintech hay tài chính cá nhân nên các NHTM bị chịu sức ép cạnh tranh để chiếm thị phần. Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng cần phải chú ý đến công tác nghiên cứu, phân tích đối thủ cạnh tranh cùng với đó là việc không ngừng nâng cao năng lực tài chính của bản thân như tăng vốn, phát triển công nghệ và xây dựng các chính sách sản phẩm phù hợp để sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Nhóm nhân tố chủ quan - Năng lực tài chính: năng lực tài chính của một ngân hàng ở đây là khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, có thể thông qua việc tăng lợi nhuận giữ lại hằng năm, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sức mạnh tài chính của một ngân hàng, là tấm đệm phòng chống rủi ro.
Bên cạnh đó, quy mô tài sản và nguồn vốn lớn sẽ tạo được niềm tin và hình ảnh trong khách hàng từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. 9 - Năng lực quản trị: năng lực quản trị, điều hành phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính hiện hữu của cơ chế điều hành để có thể ứng phó tốt trước những diễn biến của thị trường. Hơn nữa, năng lực quản trị còn được phản ánh bằng khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao năng suất sử dụng đầu vào. - Khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ: Chính là phản ánh năng lực công nghệ thông tin của một ngân hàng.