Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIÁO VIÊN TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Ở nước Anh: Bộ tiêu hướng phát triển năng lực để đánh giá năng lực dành cho GV phổ thông ở Anh bao gồm ba thành phần: (1) Các giá trị và cách ứng xử mà GV phải thể hiện trong quá trình hành nghề; (2) Các tiêu chuẩn về giảng dạy; và (3) Các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp. Trên cơ sở 3 thành phần này, tiêu hướng phát triển năng lực dành cho GV phổ thông ở Anh được cụ thể hoá thành nhiều tiêu chí khác nhau, phản ánh hệ thống giá trị và đạo đức nghề nghiệp của GV quốc gia này.
Theo Hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng GV Hoa Kỳ (2008), tiêu hướng phát triển năng lực để đánh giá năng lực của GV gồm: Khối kiến thức chung và kiến thức dạy học; Kiến thức, kỹ năng hướng dẫn, hỗ trợ HS học tập; Các kiến thức, kỹ năng khác nhằm phát triển nghề dạy học. Tiêu hướng phát triển năng lực của GV được sử dụng rộng rãi trong việc kiểm định các tổ chức đào tạo GV, trong quản lý sử dụng GV và trong quá trình bồi dưỡng phát triển của bản thân GV. GV tiểu học phải có bằng cử nhân giáo dục tiểu học. GV tiểu học được tạo điều kiện tham gia các khóa học giáo dục phổ thông kết hợp với khóa học giáo dục chuyên nghiệp khác.
Ngoài ra, GV tiểu học được khuyến khích phát triển nghề nghiệp ở mức độ cao hơn chuẩn bằng cách tham gia hội thảo chuyên nghiệp thông qua khu học chính của họ hoặc theo đuổi chương trình sau đại học về giáo dục tiểu học. Dù bằng cách nào, GV tiểu học phải nuôi dưỡng bầu không khí tổ chức và truyền cảm hứng cho việc học tập, duy trì thông tin liên lạc giữa GV, phụ huynh và các quản trị viên. 5 Bộ tiêu hướng phát triển năng lực đánh giá năng lực của GV bang California (2009), Hoa Kỳ được cấu thành bởi sáu lĩnh vực liên quan thực hành giảng dạy, gồm: Sự cam kết tham gia và hỗ trợ HS học tập; Tạo dựng và duy trì môi trường học tập hiệu quả cho HS; Am hiểu và tổ chức các môn học cho việc học tập của HS; Hướng dẫn xây dựng kế hoạch và thiết kế môi trường học tập trải nghiệm cho HS; Đánh giá sự tiến bộ trong học tập của HS; Thường xuyên phát triển trở thành nhà giáo dục chuyên nghiệp. Những tiêu chuẩn này là cơ sở cho việc tổ chức bồi dưỡng phát triển đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu nhà trường, GV và HS bang California, Hoa Kỳ.
Bộ tiêu hướng phát triển năng lực quốc gia để đánh giá năng lực dành cho GV Úc (2011) gồm 3 yếu tố cấu thành chính: Kiến thức nghề nghiệp; Kỹ năng thực hành nghề nghiệp; Sự cam kết tham gia phát triển nghề nghiệp, thể hiện qua các thành tố cụ thể sau: - Hiểu biết rõ đối tượng HS, cách thức học tập của HS; - Nắm vững nội dung kiến thức dạy học và biết cách tổ chức hoạt động dạy học một cách chuyên nghiệp; - Xây dựng kế hoạch dạy học và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học hiệu quả; - Tạo ra và duy trì môi trường học tập hợp tác và an toàn; - Đánh giá, cung cấp thông tin phản hồi và báo cáo kết quả học tập của HS; - Tham gia học tập bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp; - Tham gia hợp tác phát triển nghề nghiệp cùng với đồng nghiệp, phối hợp với cha mẹ HS/người bảo trợ và cộng đồng xã hội. Bộ tiêu hướng phát triển năng lực quốc gia để đánh gía năng lực dành cho GV tập trung mô tả, xác định các thành phần cấu thành chất lượng giảng dạy ở từng giai đoạn nghề nghiệp, xác định những mong đợi của GV trong ba lĩnh vực trọng tâm, phản ánh mục tiêu, bối cảnh phát triển nghề nghiệp của GV và các yêu cầu học tập của HS. Từ đó mỗi GV phải có khả năng tích hợp, vận 6 dụng sáng tạo các yêu cầu của hướng phát triển năng lực để tạo dựng môi trường giảng dạy và học tập hiệu quả. Nhiều năm trở lại đây, Chính phủ Úc đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực nghề nghiệp cho GV.
Bản tuyên bố Melbourne (2008) về các mục tiêu giáo dục cho HS Úc đã chỉ rõ, cải thiện chất lượng GV được xem là chương trình cải cách quan trọng, là một phần của những nỗ lực nâng cao trình độ HS và đảm bảo hệ thống giáo dục mang tính đẳng cấp thế giới. Trong đó nhấn mạnh đội ngũ GV là nguồn tài nguyên lớn nhất trong các trường học của nước Úc, họ chiếm phần lớn chi tiêu trong giáo dục và ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình học tập và việc cải thiện thành tích của HS. Kết quả nghiên cứu năng lực GV ở một số quốc gia nêu trên cho thấy, xác định yêu cầu hướng phát triển năng lực để xây dựng thành bộ tiêu hướng phát triển năng lực GV theo định hướng năng lực là xu hướng tất yếu. Điều này cho phép GV và CBQL giáo dục tập trung khả năng, các nguồn lực cần thiết vào bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp và quản lý phát triển đội ngũ GV theo yêu cầu nghề nghiệp.
Kết quả tìm hiểu một số công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy, các quốc gia trên thế giới tuy khai thác vấn đề nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, song đều dành sự quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ GV theo hướng phát triển năng lực của giáo viên. Các nghiên cứu này còn phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt động quản lý, đồng thời là nền tảng lý luận và thực tiễn để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về vai trò, chức năng và tác động của CBQL nhà trường đến quản lý công tác bồi dưỡng GV tiểu học theo hướng phát triển năng lực. Thêm vào đó, xu hướng trao quyền tự chủ cho nhà trường đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động quản lý nhà trường. Điều này thôi thúc cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về quản lý nhà trường, quản lý công tác bồi dưỡng GV theo hướng phát triển năng lực, làm rõ chức năng quản lý công tác bồi dưỡng GV theo hướng phát huy vai trò 7 tự quản, sáng tạo của cá nhân, đơn vị phù hợp mục tiêu phát triển đội ngũ GV theo yêu cầu của việc đổi mới giáo dục hiện nay.
Ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác bồi dưỡng phát triển đội ngũ nhà giáo là một trong những yêu cầu cấp thiết nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục giai đoạn hiện nay. Trong đó tập trung vào vấn đề mới, có trọng tâm, những vấn đề thực tiễn đội ngũ đang gặp khó khăn, đảm bảo tính kế thừa, tính hệ thống về nội dung bồi dưỡng. Việc tổ chức bồi dưỡng GV theo hướng phát huy vai trò nòng cốt của nhà trường với các hình thức đa dạng, phong phú như tự học, tự bồi dưỡng, bồi dưỡng theo tổ chuyên môn, bồi dưỡng theo nhóm GV, theo cụm trường. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm của thế giới và thực trạng ở Việt Nam, cuốn sách Quản trị nguồn nhân lực của tác giả Trần Kim Dung (2006) giới thiệu một cách hệ thống kiến thức, tư tưởng và kỹ năng quản trị nguồn nhân lực và các nhóm chức năng quan trọng của quản trị nguồn nhân lực trong tổ chức.
Tác giả đề xuất nhóm nguyên tắc cơ bản về công tác đào tạo, bồi dưỡng đối tượng người lớn. Tác giả cho rằng quá trình đào tạo, bồi dưỡng và phát triển dù diễn ra ở đâu đều là quá trình giảng dạy và học tập, do đó ở bất kỳ hình thức nào cần lưu ý tuân thủ các nguyên tắc bồi dưỡng như: Kích thích người học; Cung cấp thông tin phản hồi; Tổ chức công tác đào tạo bồi dưỡng; Nhắc lại để giúp người học tiếp thu và củng cố kiến thức. Tác phẩm Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tác giả Phạm Minh Hạc (1996) đánh giá nguồn nhân lực là một trong những tiền đề cơ bản của xã hội, trong đó, công tác đào tạo nâng cao chất lượng và phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản. Muốn xây dựng nguồn lực con người đáp ứng công cuộc đổi mới thì hệ thống giáo dục phải thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng con người có năng lực trí tuệ và phẩm chất đạo đức phù hợp.
Do vậy, việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát triển nhân tố con người 8 trở thành động lực tạo nên sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong số các tác phẩm khoa học quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có một số tài liệu trình bày về quản lý nhà trường, quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục đề cập tới công tác bồi dưỡng GV. Chẳng hạn như: Bộ tài liệu các chương trình bồi dưỡng CBQL giáo dục (quyển 1); (2012); Bộ tài liệu giảng dạy về Quản lý nhà trường dùng trong chương trình bồi dưỡng CBQL trường phổ thông (2013). Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (2004), Nguyễn Văn Lê (1998) và một số nhà nghiên cứu giáo dục khác nghiên cứu về vấn đề giáo dục, trong đó trình bày nội dung liên quan đến nguồn nhân lực và công tác bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo cho rằng công tác đào tạo, bồi dưỡng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển con người, đó là phương pháp cơ bản giúp người học có cơ hội thể hiện và phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức khoa học.
Ở đây, các tác giả khẳng định nguồn nhân lực giáo dục là một bộ phận hợp thành của nguồn nhân lực xã hội đồng thời có những đặc trưng riêng. Do vậy bồi dưỡng đội ngũ GV là góp phần xây dựng và phát triển nguồn nhân lực giáo dục và nguồn nhân lực xã hội. Tác giả Vũ Quốc Chung, Nguyễn Văn Cường (2011) trong công trình nghiên cứu vấn đề Cải cách đào tạo và bồi dưỡng GV định hướng chuẩn và năng lực nghề nghiệp, trình bày quan điểm thực hiện cải cách đào tạo và bồi dưỡng GV theo định hướng chuẩn và năng lực nghề nghiệp, giới thiệu, phát triển các mô hình, chương trình đào tạo GV định hướng chuẩn và năng lực nghề nghiệp, trên cơ sở đó tổ chức công tác bồi dưỡng GV định hướng chuẩn và năng lực nghề nghiệp.