Luận văn thạc sĩ ueh đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức cá nhân nộp thuế đối với việc kê khai thuế qua mạng tại chi cụ thuế quận tân bình

Luận văn thạc sĩ UEH đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân nộp thuế về kê khai thuế qua mạng tại chi cục thuế quận Tân Bình.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

137
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Dịch vụ và dịch vụ công

1.2. Dịch vụ công

1.3. Chất lượng dịch vụ, đo lường chất lượng dịch vụ

1.3.1. Chất lượng dịch vụ

1.3.2. Đo lường chất lượng dịch vụ

1.4. Dịch vụ kê khai thuế qua mạng

1.4.1. Mô hình tổng thể ứng dụng

1.4.2. Điều kiện sử dụng

1.4.3. Quy trình đăng ký nộp hồ sơ khai thuế qua mạng

1.4.4. Những tiện ích khi kê khai thuế qua mạng internet

1.5. Sự hài lòng của khách hàng

1.5.1. Sự hài lòng và chất lượng dịch vụ

1.5.2. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng

1.6. Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.1.1. Nghiên cứu định tính

2.1.2. Nghiên cứu định lượng

2.2. Xây dựng thang đo

2.2.1. Thang đo thành phần “Mức độ an toàn số liệu khi kê khai qua mạng”

2.2.2. Thang đo thành phần “Mức độ tiện dụng khi kê khai qua mạng”

2.2.3. Thang đo thành phần “Lợi ích mang lại khi kê khai qua mạng”

2.2.4. Thang đo thành phần “Năng lực phục vụ của công chức thuế”

2.2.5. Thang đo thành phần “Trang thiết bị, cơ sở vật chất”

2.2.6. Thang đo thành phần “Mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân nộp thuế”

2.3. Phương pháp phân tích dữ liệu

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NỘP THUẾ ĐỐI VỚI VIỆC KÊ KHAI THUẾ QUA MẠNG TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN TÂN BÌNH

3.1. Giới thiệu về Chi Cục Thuế Quận Tân Bình và công tác kê khai qua mạng tại đây trong thời gian qua

3.1.1. Sơ lược về Chi Cục Thuế Quận Tân Bình

3.1.2. Công tác kê khai thuế qua mạng tại Chi Cục Thuế Quận Tân Bình trong thời gian qua

3.2. Phân tích dữ liệu

3.2.1. Mô tả mẫu

3.2.2. Đánh giá các thang đo

3.2.3. Điều chỉnh mô hình lý thuyết

3.2.4. Kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu bằng phương pháp phân tích hồi quy bội

3.3. Đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân nộp thuế đối với dịch vụ kê khai thuế qua mạng tại Chi Cục thuế Tân Bình

3.3.1. Đánh giá mức độ hài lòng chung

3.3.2. Đánh giá sự hài lòng về năng lực phục vụ và điều kiện vật chất

3.3.3. Đánh giá sự hài lòng về những tiện lợi mang lại

3.3.4. Đánh giá sự hài lòng về mức độ an toàn

3.3.5. Đánh giá sự hài lòng về thủ tục và quy trình

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KÊ KHAI THUẾ QUA MẠNG TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN TÂN BÌNH

4.1. Mục tiêu xây dựng các giải pháp

4.2. Các giải pháp nâng cao sự hài lòng của tổ chức, cá nhân nộp thuế đối với chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực kê khai thuế qua mạng tại Chi Cục Thuế Quận Tân Bình

4.2.1. Xây dựng mô hình hoạt động đề xuất đối với bộ phận kê khai thuế qua mạng

4.2.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức thuế, tăng cường trang bị cơ sở vật chất

4.2.2.1. Về thành phần “năng lực phục vụ và điều kiện vật chất”
4.2.2.2. Về thành phần “những tiện lợi mang lại”
4.2.2.3. Về thành phần “mức độ an toàn”
4.2.2.4. Về thành phần “thủ tục và quy trình”

4.3. Hạn chế và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo

4.3.1. Gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Mức Độ Hài Lòng Của Người Nộp Thuế Tại Quận Tân Bình

Đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân nộp thuế về việc kê khai thuế qua mạng tại Quận Tân Bình là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh hiện đại. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo ra nhiều cơ hội cho việc cải cách thủ tục hành chính, trong đó có kê khai thuế. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ mà còn nâng cao sự hài lòng của người nộp thuế.

1.1. Khái Niệm Về Đánh Giá Mức Độ Hài Lòng Của Người Nộp Thuế

Đánh giá mức độ hài lòng của người nộp thuế liên quan đến cảm nhận của họ về chất lượng dịch vụ kê khai thuế qua mạng. Điều này bao gồm các yếu tố như tính tiện lợi, độ an toàn và sự hỗ trợ từ cơ quan thuế.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Kê Khai Thuế Qua Mạng

Kê khai thuế qua mạng không chỉ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho người nộp thuế mà còn nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý thuế. Điều này góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững.

II. Những Thách Thức Trong Đánh Giá Mức Độ Hài Lòng Của Người Nộp Thuế

Mặc dù việc kê khai thuế qua mạng mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức cần được giải quyết. Những thách thức này có thể ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người nộp thuế.

2.1. Vấn Đề Về Chất Lượng Dịch Vụ Kê Khai Thuế

Chất lượng dịch vụ kê khai thuế qua mạng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tốc độ xử lý, độ chính xác của thông tin và sự hỗ trợ từ nhân viên thuế. Những vấn đề này cần được cải thiện để nâng cao sự hài lòng.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Tiếp Cận Công Nghệ

Một số tổ chức và cá nhân nộp thuế có thể gặp khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ thông tin, dẫn đến việc không thể sử dụng dịch vụ kê khai thuế qua mạng một cách hiệu quả.

III. Phương Pháp Đánh Giá Mức Độ Hài Lòng Của Người Nộp Thuế

Để đánh giá mức độ hài lòng của người nộp thuế, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học. Các phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác và đáng tin cậy.

3.1. Phương Pháp Nghiên Cứu Định Tính

Phương pháp nghiên cứu định tính giúp hiểu rõ hơn về cảm nhận và mong đợi của người nộp thuế thông qua các cuộc phỏng vấn và thảo luận nhóm.

3.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Định Lượng

Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng bảng khảo sát để thu thập dữ liệu từ một số lượng lớn người nộp thuế, từ đó phân tích và đưa ra kết luận về mức độ hài lòng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Mức Độ Hài Lòng Của Người Nộp Thuế

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ hài lòng của người nộp thuế về dịch vụ kê khai thuế qua mạng tại Quận Tân Bình có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm đối tượng.

4.1. Đánh Giá Mức Độ Hài Lòng Chung

Mức độ hài lòng chung của người nộp thuế về dịch vụ kê khai thuế qua mạng cho thấy sự cải thiện đáng kể so với các năm trước, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục.

4.2. Đánh Giá Sự Hài Lòng Về Năng Lực Phục Vụ

Năng lực phục vụ của nhân viên thuế được đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng của người nộp thuế. Cần có các biện pháp nâng cao năng lực phục vụ để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người nộp thuế.

V. Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Kê Khai Thuế Qua Mạng

Để nâng cao chất lượng dịch vụ kê khai thuế qua mạng, cần triển khai một số giải pháp cụ thể nhằm cải thiện trải nghiệm của người nộp thuế.

5.1. Cải Thiện Hệ Thống Kê Khai Thuế

Cần nâng cấp hệ thống kê khai thuế để đảm bảo tính ổn định và bảo mật thông tin, từ đó tạo niềm tin cho người nộp thuế.

5.2. Đào Tạo Nhân Viên Thuế

Đào tạo nhân viên thuế về kỹ năng giao tiếp và hỗ trợ kỹ thuật sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của người nộp thuế.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Kê Khai Thuế Qua Mạng Tại Quận Tân Bình

Kê khai thuế qua mạng tại Quận Tân Bình đang trên đà phát triển, nhưng cần tiếp tục cải thiện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người nộp thuế. Tương lai của dịch vụ này phụ thuộc vào sự đầu tư và cải cách liên tục.

6.1. Tương Lai Của Dịch Vụ Kê Khai Thuế

Dịch vụ kê khai thuế qua mạng có tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai, đặc biệt khi công nghệ thông tin ngày càng phát triển.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần có các nghiên cứu tiếp theo để đánh giá sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người nộp thuế và đề xuất các giải pháp cải thiện.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức cá nhân nộp thuế đối với việc kê khai thuế qua mạng tại chi cụ thuế quận tân bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Dịch vụ và dịch vụ công 1.1 Dịch vụ Dịch vụ, lĩnh vực đã và đang đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu hàn lâm từ những năm 80 của thế kỷ 20 (ví dụ như Zeithaml 1981, Groonroos 1984…). Từ đây đã có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm dịch vụ xuất hiện và cho đến nay khái niệm dịch vụ vẫn còn là vấn đề còn nhiều tranh luận do dịch vụ có những đặc trưng riêng cơ bản sau: - Tính vô hình (intangibility) - sản phẩm của dịch vụ là sự thực thi, khách hàng không thể thấy, nếm, sờ, ngửi… trước khi mua, đặc điểm này của dịch vụ gây rất nhiều khó khăn cho việc quản lý hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ. - Tính không thể chia tách (inseparability) - sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất và phân phối chúng, quá trình cung ứng dịch vụ cũng là tiêu thụ dịch vụ, do vậy không thể dấu được các sai lỗi của dịch vụ. - Tính không đồng nhất (heterogeneity) - dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khó kiểm soát trước hết do hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong khoảng thời gian hoàn toàn khác nhau, nghĩa là gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau.

- Tính dễ hỏng (perishability) - dịch vụ không thể tồn kho, không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác, không thể kiểm tra chất lượng trước khi cung ứng, người cung cấp chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc.2 Dịch vụ công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- Theo PGS.TS Nguyễn Như Phát (2002), Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật: “Dịch vụ công là loại hình dịch vụ được cung cấp bởi các cơ quan hành chính nhà nước cho các tổ chức, cá nhân bên ngoài, không mang tính chất công vụ, nhằm đáp ứng các nhu cầu cụ thể về mặt pháp lý”. Lê Chi Mai (2009), Học viện Hành chính quốc gia: “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ trực tiếp các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do Nhà nước đảm nhận hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng xã hội”. Phạm Hồng Thái (2002), Học viện Hành chính quốc gia: “Dịch vụ công là hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và bảo đảm cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu, lợi ích chung thiết yếu của xã hội”. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ công nhưng về cơ bản, dịch vụ công có những đặc điểm chung như sau: - Đây là loại dịch vụ do Nhà nước (cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp) trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho các tổ chức, đơn vị ngoài Nhà nước thực hiện dưới sự giám sát của Nhà nước.

- Dịch vụ công đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân, của xã hội. - Nhà nước có trách nhiệm trước nhân dân, xã hội về chất lượng, số lượng dịch vụ công thông qua việc thể chế hóa pháp luật, hoạch định chính sách, quy định tiêu chuẩn chất lượng của dịch vụ công, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện… - Dịch vụ công không nhằm mục tiêu lợi nhuận, đối tượng thụ hưởng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, trừ một số trường hợp phải nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Nói chung, có thể hiểu một cách khái quát, dịch vụ công là dịch vụ do Nhà nước chịu trách nhiệm phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân, xã hội không nhằm mục đích lợi nhuận. Căn cứ vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, có thể chia dịch vụ công ở nước ta thành hai loại cơ bản sau: - Dịch vụ công do cơ quan hành chính công cung cấp trực tiếp cho người dân, gắn với việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước.

Nhà nước dựa trên cơ sở quyền lực, thực hiện những “dịch vụ” có tính quyền lực để đáp ứng, đảm bảo các quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo và duy trì trật tự, an ninh xã hội, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân (duy trì trật tự trị an, hộ khẩu, cấp phép kinh doanh, xuất nhập cảnh, hải quan, thuế…), loại dịch vụ này gọi là dịch vụ hành chính công. - Dịch vụ công nhằm thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu và quyền cơ bản của người dân trong việc hưởng thụ các của cải vật chất và tinh thần của xã hội. Loại dịch vụ này được gọi là dịch vụ công cộng, phục vụ chung cho cộng đồng, gồm các loại: + Dịch vụ sự nghiệp công: là những dịch vụ liên quan đến nhu cầu và quyền lợi cơ bản đối với sự phát triển con người về thể lực và trí lực như: y tế, giáo dục, văn hóa thông tin, khoa học, bảo hiểm an sinh xã hội, phòng cháy chữa cháy, dịch vụ tư vấn, hỗ trợ pháp lý miễn phí cho người nghèo… + Dịch vụ kinh tế - kỹ thuật: là loại dịch vụ gắn với nhu cầu vật chất, phục vụ lợi ích chung của xã hội, bao gồm: cung ứng điện, nước, giao thông công cộng, bưu chính viễn thông, vệ sinh môi trường, thủy lợi, xây dựng đường xá, cầu cống… Ở Việt Nam, các dịch vụ này do các doanh nghiệp công ích cung ứng nên còn gọi là dịch vụ công ích.2 Chất lượng dịch vụ, đo lường chất lượng dịch vụ 1.1 Chất lượng dịch vụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ, nhưng nhìn chung người ta định nghĩa chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau.

Theo Russell (1999) “chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hoá và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thoả mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng”. Theo Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Theo Gronroos (1984) cũng đề nghị hai lãnh vực của chất lượng dịch vụ, đó là (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ và chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào.

Nói về nghiên cứu chất lượng dịch vụ thì không thể không nhắc đến Parasuraman & ctg (1985, 1988) “ chất lượng dịch vụ được xác định là khoảng cách kỳ vọng cuả khách hàng về dịch vụ và cảm nhận của họ sau khi đã sử dụng dịch vụ đó”. Nhìn chung, chất lượng dịch vụ công được hiểu là mức độ cảm nhận của người dân về các thủ tục hành chính nhà nước và cách thức hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết công việc của các công chức nhà nước. Chất lượng dịch vụ công được đánh giá dựa trên kết quả thực thi pháp luật và thái độ, trách nhiệm phục vụ của công chức nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.2 Đo lường chất lượng dịch vụ 1.1 Mô hình SERVQUAL Parasuraman & ctg (1985, 1988) là những người đưa ra mô hình 05 khoảng cách chất lượng dịch vụ được các nhà nghiên cứu khác trên thế giới chấp nhận và sử dụng nhiều nhất. Mô hình này được trình bày ở hình như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- Dịch vụ kỳ vọng Khoảng cách_5 Khách hàng Dịch vụ cảm nhận Khoảng cách Dịch vụ Khoảng cách_4 Thông tin đến _1 chuyển giao khách hàng Khoảng cách_3 Chuyển đổi cảm nhận Nhà của công ty thành tiếp tiêu chí chất lượng thị Khoảng cách_2 Nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng Hình 1.1: Mô hình chất lượng dịch vụ Nguồn: Parasuraman & ctg (1985:44) Khoảng cách thứ nhất xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và nhà quản trị dịch vụ cảm nhận về kỳ vọng này của khách hàng.

Điểm cơ bản của sự khác biệt này là do công ty dịch vụ không hiểu biết được hết những đặc điểm nào tạo nên chất lượng của dịch vụ mình cung cấp cũng như cách thức chuyển giao chúng cho khách hàng để thỏa mãn nhu cầu của họ. Khoảng cách thứ hai xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - chất lượng của dịch vụ. Trong nhiều trường hợp, công ty có thể nhận thức được kỳ vọng của khách hàng nhưng không phải lúc nào công ty cũng có thể chuyển đổi kỳ vọng này thành những tiêu chí cụ thể về chất lượng và chuyển giao chúng theo đúng kỳ vọng cho khách hàng. Nguyên nhân chính của vấn đề là khả năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên dịch vụ cũng như dao động quá nhiều của cầu về dịch vụ.

Có những lúc cầu về dịch vụ quá cao làm cho công ty không thể đáp ứng kịp. Khoảng cách thứ ba xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định. Trong quá trình cung ứng dịch vụ, các nhân viên có liên hệ trực tiếp với khách hàng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tạo ra chất lượng. Tuy nhiên, không phải lúc nào và không phải tất cả các nhân viên đều có thể hoàn thành nhiệm vụ theo các tiêu chí đã đề ra.

Khoảng cách thứ tư xuất hiện khi có sự tác động của các phương tiện quảng cáo và thông tin đến kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Những hứa hẹn trong các chương trình quảng cáo khuyến mại có thể làm gia tăng kỳ vọng của khách hàng nhưng cũng sẽ làm giảm chất lượng mà khách hàng cảm nhận được khi chúng không được thực hiện theo đúng những gì đã hứa hẹn. Khoảng cách thứ năm xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng bởi khách hàng và chất lượng họ cảm nhận được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ