Chương I. Cơ sở khoa ho ̣c về quản lý môi trường Khu công nghiệp; Chương II. Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu; Chương III. Kết quả nghiên cứu; Kết luận và kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phần các phụ lục.
11 CHƢƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan về quản lý môi trƣờng khu công nghiệp 1. Khái niệm về khu công nghiệp và quản lý môi trường khu công nghiệp. - Khái niệm về Khu công nghiệp: Ngày 14 tháng 3 năm 2008 Chính phủ đã ban hành nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, trong đó tại Điều 2 của Nghị định có quy định “Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định”.
- Quản lý môi trường khu công nghiệp: Quản lý môi trường khu công nghiệp là việc tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm giữ cho môi trường bên trong và xung quanh khu công nghiệp được trong sạch, cải thiện môi trường, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do các hoạt động của khu công nghiệp gây ra cho môi trường. - Các đặc điểm của Khu công nghiệp: Các đặc điểm của khu công nghiệp gồm: Có diện tích từ 40 ha trở lên; có quy hoạch chi tiết phân khu cụm công nghiệp; có hệ thống cấp điện, nước đảm bảo cho nhu cầu sử dụng theo từng giai đoạn phát triển; được xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thoát nước mưa và thoát nước thải riêng biệt; Có trạm xử lý nước thải tập trung đảm bảo đạt tiêu chuẩn xử lý xả thải vào nguồn tiếp nhận tương ứng; Có địa điểm và phương tiện cần thiết sẵn sàng cho việc trung chuyển và/hoặc lưu trữ tạm thời chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại với điều kiện đảm bảo hợp vệ sinh và an toàn cho môi trường. Các công cụ quản lý môi trường Khu công nghiệp 1. Công cụ pháp lý: Trong thời gian qua, Chính phủ các cơ quan quản lý Nhà nước trong với lĩnh vực môi trường KCN đã nỗ lực xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách về bảo vệ 12 môi trường và triển khai thường xuyên nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường.
Một số công việc cụ thể đã triển khai là: + Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 quy định về KCN, KCX và KKT, trong đó quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Ban quản lý KCN, KKT trong công tác thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường theo hướng tăng cường phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý KCN, KKT trong thực hiện một số nhiệm vụ bảo vệ môi trường KCN, KKT. Việc tăng cường phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý KCN, KKT đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Ban quản lý KCN, KKT-cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp các KCN, KKT thực hiện sát sao hơn nhiệm vụ quản lý, kiểm tra, giám sát môi trường KCN, KKT. + Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 35/2015/TT- BTNMT, ngày 30 tháng 6 năm 2015 về về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, trong đó quy định cụ thể trách nhiệm trong hoạt động bảo vệ môi trường đối với cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp; Ban Quản lý khu kinh tế, Ban Quản lý khu công nghệ cao, Ban Quản lý khu công nghiệp và Cơ quan quản lý cụm công nghiệp; chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp và tổ chức cá nhân trong và ngoài nước có liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp. Quy định việc quản lý thống nhất về bảo vệ môi trường các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao nhằm bảo vệ môi trường bên trong và xung quanh khu công nghiệp.
Bên cạnh đó Công tác bảo vệ môi trường đối với KCN, CCN thời gian qua được lồng ghép ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường nay là Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015; Thông tư 31/2009/TTLT-BCT- BTNMT ngày 04/11/2009 của Bộ Công Thương và Bộ Tài nguyên và Môi trường 13 hướng dẫn phối hợp giữa Sở Công Thương với Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực công thương; Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 18/2015/NĐ-CP của Chính phủ; Thông tư số 48/2011/TT-BTNMT ngày 28/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trườngvề việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2009/TT- BTNMT; Thông tư số 01/2012/TT-BTNMT ngày 16/3/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết, lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản; Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.; và gần đây Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014, trong đó có quy định riêng nội dung quản lý và bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp (Điều 67). Bên cạnh đó ngày 18 tháng 11 năm 2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 155/2016/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Nghị định này có tính răn đe cao và tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ môi trường đối với các cá nhân và các cơ sở hoạt động kinh doanh. Công cụ kinh tế: Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các khu công nghiệp để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất có lợi cho môi trường (Thuế và phí môi trường, giấy phép chất thải có thể mua bán được hay "cota ô nhiễm", ký quỹ môi trường, trợ cấp môi trường, nhãn sinh thái. Việc sử dụng các công cụ kinh tế trên ở các nước cho thấy một số tác động tích cực như các hành vi môi trường được thuế điều chỉnh một cách tự giác, các chi phí của xã hội cho công tác bảo vệ môi trường có hiệu quả hơn, khuyến khích việc nghiên cứu triển khai kỹ thuật công nghệ có lợi cho bảo vệ môi trường, gia tăng nguồn thu nhập phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy trì tốt giá trị môi trường của quốc gia.
- Ngày 19 tháng 3 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 43/2009/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương cho xây dựng cơ 14 sở hạ tầng KCN ở các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (thay thế Quyết định 183/2004/QĐ-TTg ngày 19/10/2004). Theo đó, các KCN ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được ngân sách Trung ương hỗ trợ một phần cho xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung cho KCN. Việc triển khai Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg và Quyết định số 43/2009/QĐ-TTg đã góp phần tích cực trong việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung ở các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Bên cạnh đó, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là tổ chức tài chính nhà nước thực hiện chức năng hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó các loại hình dự án mà quỹ cho vay tập trung vào các lĩnh vực như: xử lý chất thải công nghiệp của các khu công nghiệp, xử lý nước thải của nhà máy, xí nghiệp, xử lý ô nhiễm làng nghề, xử lý khói bụi xi- măng và các loại bụi khác, triển khai công nghệ sạch, thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng.
- Phí môi trường: Nghị định 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định thu phí với nước thải công nghiệp nay được thay thế bởi Nghị định 25/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013. Theo nghị định 25/2013/NĐ-CP mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của Việt Nam được tính theo từng chất gây ô nhiễm có trong nước thải, theo từng môi trường tiếp nhận. Thu phí nước thải chỉ là một trong số nhiều công cụ kinh tế quản lý môi trường đã, đang và sẽ được đẩy mạnh áp dụng trong hời gian tới. Giải pháp ưu tiên này đã được ghi rõ trong chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được chính phủ phê duyệt.
- Nhãn sinh thái, doanh nghiệp xanh, sản xuất sạch hơn: Theo Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu (GEN) định nghĩa Nhãn sinh thái là nhãn chỉ ra tính ưu việt về mặt môi trường của một sản phẩm, dịch vụ so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại dựa trên các đánh giá vòng đời sản phẩm. Nhãn sinh thái là một danh hiệu của nhà nước cấp cho các sản phẩm không gây ra ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình sử dụng các sản phẩm đó". - Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tạo tính răn đe và nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường đối với các cá nhân tổ chức hoạt 15 động kinh doanh sản xuất, tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, một hành vi vi phạm có thể bị xử phạt tối đa là 2.000 (hai tỷ đồng), Nghị định này đã có hiệu lực từ ngày 01 tháng 2 năm 2016. Tuyên truyền giáo dục - Việc tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường đóng vai trong hết sức quan trọng trong công tác quản lý môi trường.