Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Biến đổi khí hậu toàn cầu đang tác động sâu sắc đến hệ thống sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực thế giới. Theo dự báo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 2009; 2011), dân số thế giới sẽ tăng thêm một phần ba (khoảng 2 tỷ người) vào năm 2050, chủ yếu tập trung tại các quốc gia đang phát triển, trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa. Để đáp ứng nhu cầu lương thực và thức ăn chăn nuôi, sản lượng nông nghiệp toàn cầu bắt buộc phải tăng 60% vào năm 2050. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan (hạn hán, rét đậm rét hại, mưa lớn bất thường), có thể khiến năng suất cây trồng tại các khu vực dễ bị tổn thương như Nam Á và châu Phi cận Sahara sụt giảm từ 15% đến 35% (Stern, 2006; Cline, 2007; Lobell et al., 2009).
Tại Việt Nam, tỉnh Thái Nguyên là địa bàn miền núi chịu nhiều thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp do các hiện tượng khí hậu cực đoan. Xã Ký Phú là một trong những xã miền núi thuộc huyện Đại Từ, có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn với hơn 70% lực lượng lao động phụ thuộc trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp. Đời sống của người dân địa phương chịu tác động trực tiếp và nặng nề từ các đợt hạn hán kéo dài, rét đậm rét hại và diễn biến thời tiết thất thường làm suy giảm năng suất cây trồng, gia tăng sâu bệnh hại.
Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Khoa học và Quản lý Môi trường (Environmental Science and Management) với đề tài "Assessing cropping models adapting to climate change in Ky Phu commune – Dai Tu district – Thai Nguyen province" (Đánh giá mô hình canh tác thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) do sinh viên Trần Thị Lành thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. TS. Trần Văn Điền đã được triển khai.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Xác định hiện trạng các mô hình canh tác cây trồng đang được áp dụng tại xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong năm 2015.
- Đánh giá hiệu quả của các mô hình canh tác trên ba phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
- Đề xuất các khuyến nghị và lựa chọn mô hình canh tác tối ưu có khả năng thích ứng tốt nhất với biến đổi khí hậu nhằm phát triển bền vững tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình canh tác cây trồng nông nghiệp tại địa phương.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (tập trung khảo sát thực địa tại 4 xóm: Dân 1, Dân 2, Dân 3 và xóm Gió).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2014 – 2015; số liệu sơ cấp điều tra khảo sát hộ nông dân thực hiện năm 2015 – 2016; khóa luận hoàn thành và nộp vào tháng 09/2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm
Khóa luận tiếp cận vấn đề dựa trên các khung khái niệm và lý thuyết nông nghiệp bền vững quốc tế:
- Hệ thống/Mô hình canh tác (Cropping systems/models): Trình tự phân bố không gian và thời gian của các loại cây trồng cùng với các biện pháp kỹ thuật quản lý đất đai, phân bón, tưới tiêu trên một thửa ruộng trong nhiều năm. Các hình thức canh tác bao gồm: luân canh gối vụ (relay intercropping), luân canh 2 vụ/năm (double-cropping), xen canh (intercropping), độc canh (monocropping), canh tác dải (strip cropping) và hiện tượng cảm nhiễm qua lại/tự độc của cây trồng (allelopathy/autotoxicity).
- Biến đổi khí hậu và Nông nghiệp thông minh thích ứng khí hậu (CSA): Định nghĩa theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) và Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC); tiếp cận mô hình thâm canh bền vững "Save and Grow" của FAO (2011) nhằm nâng cao năng suất gắn liền với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
- Khung chỉ số đánh giá tính bền vững nông nghiệp của Zhen và Routray (2003): Đánh giá tổng hợp 3 trụ cột:
- Kinh tế: Năng suất cây trồng, thu nhập thuần của nông hộ, tỷ số chi phí - lợi ích, sản lượng lương thực bình quân đầu người.
- Xã hội: Mức độ tự chủ lương thực, bình đẳng phân phối thu nhập, khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ, nhận thức và kiến thức của nông dân về bảo tồn tài nguyên, giải quyết việc làm.
- Môi trường/Sinh thái: Lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật sử dụng/ha, lượng nước tưới, độ phì và hàm lượng dinh dưỡng của đất, độ sâu và chất lượng nước ngầm, mức độ xói mòn và suy thoái đất.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp các phương pháp thu thập dữ liệu định tính và định lượng:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, báo cáo thống kê đất đai năm 2014 - 2015 của Ủy ban Nhân dân xã Ký Phú; các tài liệu khoa học, số liệu từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông lâm nghiệp miền núi (Hội Khoa học Nông lâm nghiệp Thái Nguyên).
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn hộ: Thiết kế phiếu điều tra xã hội học và phỏng vấn trực tiếp 60 chủ hộ gia đình sản xuất nông nghiệp tại 4 xóm đại diện (Dân 1, Dân 2, Dân 3, xóm Gió) về diện tích canh tác, cơ cấu giống, năng suất, giá bán, chi phí vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và ngày công lao động.
- Phương pháp xử lý thống kê và phân tích hiệu quả:
- Dữ liệu điều tra được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.
- Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế:
- Tổng giá trị sản xuất: $T = \sum (P_i \times Q_i)$ (trong đó $P_i$ là giá thị trường của sản phẩm thứ $i$, $Q_i$ là sản lượng sản phẩm thứ $i$ trên 1 ha/năm).
- Thu nhập thuần: $N = T - C_{sx}$ (với $C_{sx}$ là tổng chi phí đầu tư sản xuất cho 1 ha/năm).
- Hiệu quả đồng vốn: $H_v = T / C_{sx}$ (lần).
- Giá trị một ngày công lao động: $H_{ld} = N / \text{Tổng số ngày công lao động/ha/năm}$ (nghìn đồng/công).
- Chỉ tiêu hiệu quả xã hội: Khả năng thu hút lao động nông nhàn (số công lao động/ha), giá trị ngày công ($H_{ld}$), hiệu quả sử dụng vốn sản xuất.
- Chỉ tiêu hiệu quả môi trường: Đánh giá dựa trên độ che phủ và khả năng cải tạo đất của mô hình, mức độ sử dụng phân bón vô cơ (so sánh thực tế sử dụng với định mức khuyến cáo kỹ thuật), mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và thời gian cách ly.
- Phương pháp phân cấp đánh giá: Toàn bộ các chỉ tiêu được phân thành 5 mức độ theo ngưỡng giá trị: Rất cao (Very High - VH), Cao (High - H), Trung bình (Medium - M), Thấp (Low - L) và Rất thấp (Very Low - VL).
Nội dung chính theo từng chương
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tác động của biến đổi khí hậu tại xã Ký Phú
- Điều kiện tự nhiên: Xã Ký Phú nằm ở phía Nam huyện Đại Từ, tổng diện tích đất tự nhiên là 1.835,47 ha (năm 2015 đất nông nghiệp chiếm 1.518,10 ha, trong đó đất trồng lúa là 400,20 ha, đất lâm nghiệp 998,10 ha). Địa hình đồi bát úp xen kẽ thung lũng, độ cao trung bình 60 – 80 m so với mực nước biển. Thổ nhưỡng gồm đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá bazơ, đất phù sa ven suối và đất dốc tụ thung lũng. Nguồn nước mặt gồm 5 con suối chính (suối Hải Huyền, Cầu Bến, Đá Đen, Nguồn, Gò Non) bắt nguồn từ dãy Tam Đảo và hồ Gò Miếu (diện tích mặt nước khoảng 44 ha).
- Đặc điểm kinh tế - xã hội: Năm 2015, toàn xã có 2.122 hộ với 7.410 nhân khẩu thuộc 8 dân tộc cùng sinh sống (Tày, Nùng, Dao, Kinh, Sán Chí...). Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp chiếm 76,7%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 14,3%, thương mại - dịch vụ chiếm 9,0%. Tỷ lệ hộ nghèo là 7,31%, thu nhập bình quân đầu người đạt 19,2 triệu đồng/năm. Lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm 54,6% dân số.
- Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp:
- Hạn hán kéo dài: Làm phát sinh rệp cờ, bọ xít đen, sâu đục thân trên lúa; diện tích ngô vụ hạn bị giảm mạnh (chỉ còn 40% so với giai đoạn 5-7 năm trước), tỷ lệ bắp ngô không hạt/lép hạt năm 2015 lên tới 70%; lạc và khoai tây bị kiến đỏ cắn phá củ.
- Rét đậm, rét hại: Gây nghẹt rễ lúa xuân, làm chậm chu kỳ sinh trưởng, cháy lá; khoai tây bị xoăn lá; trâu bò bị chết rét và mắc bệnh lở mồm long móng.
- Thời tiết thất thường (mưa nắng xen kẽ bất thường): Phát sinh bệnh đạo ôn, lùn xoắn lá trên lúa; đậu xanh ra hoa nhiều đợt nhưng chín không đều, giảm năng suất hạt; dịch tả, tụ huyết trùng bùng phát trên đàn lợn và gia cầm.
Hiện trạng các mô hình canh tác cây trồng tại xã Ký Phú năm 2015
Toàn xã gieo trồng 758,00 ha cây lương thực mỗi năm (lúa xuân 331,50 ha, năng suất 55,8 tạ/ha; lúa mùa 346,00 ha, năng suất 54,1 tạ/ha; ngô 80,30 ha); cây màu gồm hơn 314,00 ha lạc, 89,20 ha khoai tây và 5,00 ha mía đỏ.
Khảo sát xác định 6 mô hình luân canh cây trồng phổ biến nhất tại địa phương:
- Mô hình 2 vụ lúa – 1 vụ đông: Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai tây (SR-WR-P)
- Mô hình 2 vụ lúa – 1 vụ đông: Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu cô ve (SR-WR-H)
- Mô hình 2 vụ lúa – 1 vụ đông: Lúa xuân – Lúa mùa – Ngô đông (SR-WR-WC)
- Mô hình chuyên 2 vụ lúa: Lúa xuân – Lúa mùa (SR-WR)
- Mô hình chuyên cây màu: Lạc hè thu – Lạc đông xuân (SP-WP)
- Mô hình cây hàng năm: Mía đỏ – Lạc hè thu (RS-SP)
Kết quả và đóng góp
Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác
Số liệu tổng hợp hiệu quả kinh tế trên diện tích 1 ha gieo trồng của 6 mô hình canh tác tại xã Ký Phú (tính theo mặt bằng giá năm 2015) được thể hiện tại bảng sau:
| Loại hình sử dụng đất |
Mô hình canh tác (Ký hiệu) |
Giá trị sản xuất $T$ (1.000 VNĐ/ha) |
Chi phí sản xuất $C_{sx}$ (1.000 VNĐ/ha) |
Thu nhập thuần $N$ (1.000 VNĐ/ha) |
Giá trị ngày công (1.000 VNĐ/công) |
Hiệu quả đồng vốn $H_v$ (lần) |
Xếp loại kinh tế tổng hợp |
| 2 lúa – 1 vụ màu |
Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai tây (SR-WR-P) |
97.954,92 |
25.689,01 |
72.265,91 |
129,51 |
3,81 |
Trung bình (M) |
| 2 lúa – 1 vụ màu |
Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu cô ve (SR-WR-H) |
76.854,80 |
29.560,00 |
47.294,80 |
84,76 |
2,60 |
Thấp (L) |
| 2 lúa – 1 vụ màu |
Lúa xuân – Lúa mùa – Ngô đông (SR-WR-WC) |
58.332,87 |
20.612,45 |
37.720,42 |
90,24 |
2,83 |
Rất thấp (VL) |
| Chuyên lúa |
Lúa xuân – Lúa mùa (SR-WR) |
41.665,51 |
12.355,54 |
29.309,97 |
104,68 |
3,37 |
Thấp (L) |
| Chuyên màu |
Lạc hè thu – Lạc đông xuân (SP-WP) |
109.412,98 |
22.158,54 |
87.254,44 |
181,78 |
4,94 |
Rất cao (VH) |
| Cây hàng năm |
Mía đỏ – Lạc hè thu (RS-SP) |
199.944,64 |
126.951,26 |
72.993,38 |
86,90 |
1,57 |
Cao (H) |
Phát hiện chính: Mô hình chuyên cây màu (SP-WP) đạt hiệu quả đồng vốn cao nhất ($H_v = 4,94$ lần) và thu nhập thuần cao nhất (87,25 triệu đồng/ha). Mô hình Mía đỏ – Lạc hè thu (RS-SP) đạt giá trị sản xuất cao nhất (199,94 triệu đồng/ha) nhưng chi phí đầu tư ban đầu lớn (126,95 triệu đồng/ha). Trong nhóm 2 lúa – 1 màu, mô hình kết hợp khoai tây (SR-WR-P) vượt trội hơn hẳn so với ngô đông và đậu cô ve cả về thu nhập thuần lẫn hiệu quả đồng vốn.
Đánh giá hiệu quả xã hội của các mô hình canh tác
| Loại hình sử dụng đất |
Mô hình canh tác |
Nhu cầu lao động (công/ha) |
Xếp loại công lao động |
Giá trị ngày công (1.000 VNĐ) |
Hiệu quả vốn (lần) |
Xếp loại xã hội tổng hợp |
| 2 lúa – 1 màu |
Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai tây (SR-WR-P) |
558 |
Cao (H) |
129,51 (M) |
3,81 (H) |
Cao (H) |
| 2 lúa – 1 màu |
Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu cô ve (SR-WR-H) |
558 |
Cao (H) |
84,76 (L) |
2,60 (L) |
Thấp (L) |
| 2 lúa – 1 màu |
Lúa xuân – Lúa mùa – Ngô đông (SR-WR-WC) |
418 |
Trung bình (M) |
90,24 (VL) |
2,83 (L) |
Thấp (L) |
| Chuyên lúa |
Lúa xuân – Lúa mùa (SR-WR) |
280 |
Thấp (L) |
104,68 (L) |
3,37 (M) |
Thấp (L) |
| Chuyên màu |
Lạc hè thu – Lạc đông xuân (SP-WP) |
480 |
Trung bình (M) |
181,78 (H) |
4,94 (VH) |
Cao (H) |
| Cây hàng năm |
Mía đỏ – Lạc hè thu (RS-SP) |
840 |
Rất cao (VH) |
86,90 (VH) |
1,57 (VL) |
Cao (H) |
Phát hiện chính: Mô hình Mía đỏ – Lạc hè thu (RS-SP) tạo nhiều việc làm nhất cho lao động địa phương (840 công/ha). Mô hình Lạc hè thu – Lạc đông xuân (SP-WP) mang lại giá trị ngày công cao nhất (181,78 nghìn đồng/công), giải quyết tốt bài toán việc làm và thu nhập cho nông dân.
Đánh giá hiệu quả môi trường và khả năng thích ứng
- Thực trạng sử dụng phân bón: Nông dân địa phương có xu hướng bón mất cân đối N:P:K, lạm dụng phân vô cơ (đạm Urê, lân Supe) và sử dụng rất ít phân hữu cơ. Đối với lúa, lượng phân lân thực tế bón lên tới 830 – 833 kg/ha, vượt xa mức khuyến cáo kỹ thuật (450 – 500 kg/ha). Tình trạng đốt rơm rạ sau thu hoạch làm cạn kiệt chất hữu cơ trong đất và gây ô nhiễm không khí.
- Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Các loại thuốc phổ biến gồm Patox 95SP, Tasodant 600EC (trên lúa), Bassa 50 EC (trên lúa, khoai tây, mía, lạc), Ofalox 400EC (trên ngô). Nhóm mô hình chuyên rau màu và 2 lúa 1 màu thâm canh có lượng thuốc BVTV sử dụng cao hơn mức khuyến cáo.
- Đánh giá mức độ che phủ và cải tạo đất: Cây họ đậu (lạc) trong mô hình SP-WP và RS-SP có vi khuẩn nốt sần cố định đạm khí quyển quyển ($N_2$), giúp bổ sung đạm hữu cơ và tăng độ phì cho đất. Khoai tây (trong mô hình SR-WR-P) có khả năng chịu rét tốt, tiết kiệm nước tưới vụ đông so với ngô.
| Mô hình canh tác |
Mức độ sử dụng thuốc BVTV |
Mức độ sử dụng phân bón |
Khả năng cải tạo và che phủ đất |
Xếp loại môi trường tổng hợp |
| Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai tây (SR-WR-P) |
Cao (H) |
Cao (H) |
Cao (H) |
Cao (H) |
| Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu cô ve (SR-WR-H) |
Cao (H) |
Trung bình (M) |
Trung bình (M) |
Trung bình (M) |
| Lúa xuân – Lúa mùa – Ngô đông (SR-WR-WC) |
Cao (H) |
Thấp (L) |
Trung bình (M) |
Trung bình (M) |
| Lúa xuân – Lúa mùa (SR-WR) |
Trung bình (M) |
Trung bình (M) |
Trung bình (M) |
Trung bình (M) |
| Lạc hè thu – Lạc đông xuân (SP-WP) |
Trung bình (M) |
Cao (H) |
Cao (H) |
Cao (H) |
| Mía đỏ – Lạc hè thu (RS-SP) |
Cao (H) |
Cao (H) |
Cao (H) |
Cao (H) |
Tổng hợp và lựa chọn mô hình thích ứng tối ưu
Tổng hợp đánh giá trên cả 3 trụ cột (Bảng 17 của khóa luận):
| STT |
Mô hình canh tác |
Hiệu quả kinh tế |
Hiệu quả xã hội |
Hiệu quả môi trường |
Đánh giá chung |
| 1 |
Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai tây (SR-WR-P) |
Trung bình (M) |
Cao (H) |
Cao (H) |
Cao (H) - Đạt chuẩn thích ứng |
| 2 |
Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu cô ve (SR-WR-H) |
Thấp (L) |
Thấp (L) |
Trung bình (M) |
Thấp (L) |
| 3 |
Lúa xuân – Lúa mùa – Ngô đông (SR-WR-WC) |
Rất thấp (VL) |
Thấp (L) |
Trung bình (M) |
Thấp (L) |
| 4 |
Lúa xuân – Lúa mùa (SR-WR) |
Thấp (L) |
Thấp (L) |
Trung bình (M) |
Thấp (L) |
| 5 |
Lạc hè thu – Lạc đông xuân (SP-WP) |
Rất cao (VH) |
Cao (H) |
Cao (H) |
Cao (H) - Đạt chuẩn thích ứng |
| 6 |
Mía đỏ – Lạc hè thu (RS-SP) |
Cao (H) |
Cao (H) |
Cao (H) |
Cao (H) - Đạt chuẩn thích ứng |
Tác giả lựa chọn 3 mô hình tối ưu có khả năng thích ứng tốt nhất với biến đổi khí hậu tại xã Ký Phú:
- Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai tây (SR-WR-P)
- Lạc hè thu – Lạc đông xuân (SP-WP)
- Mía đỏ – Lạc hè thu (RS-SP)
Các mô hình này đạt mức hiệu quả đồng vốn bình quân khoảng 3,64 lần, giá trị ngày công bình quân đạt xấp xỉ 130,65 nghìn đồng/công, đồng thời đảm bảo giữ độ phì cho đất, hạn chế xói mòn và giảm thiểu thiệt hại do thời tiết cực đoan.
Giải pháp và kiến nghị đề xuất
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Giảm dần diện tích ngô vụ đông bị lép hạt do hạn hán, thay thế bằng khoai tây ưa lạnh hoặc mở rộng diện tích cây họ đậu (lạc) để tận dụng khả năng cố định đạm sinh học.
- Biện pháp kỹ thuật và môi trường: Khuyến cáo nông dân tuân thủ bón phân cân đối N:P:K, giảm lượng phân lân vô cơ dư thừa, tăng cường bón phân hữu cơ/vi sinh; chấm dứt việc đốt rơm rạ trên đồng ruộng; áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và biện pháp sinh học thay thế thuốc hóa học nồng độ cao (như Bassa 50 EC).
- Hỗ trợ chính sách: Chính quyền địa phương cần tổ chức tập huấn chuyển giao kỹ thuật canh tác thích ứng BĐKH, hỗ trợ nguồn giống kháng hạn/chịu rét và kết nối thị trường tiêu thụ nông sản ổn định cho nông dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi khảo sát sơ cấp giới hạn trong quy mô 60 hộ gia đình tại 4 xóm của 1 xã miền núi (xã Ký Phú, huyện Đại Từ), chưa mở rộng khảo sát so sánh liên vùng với các xã lân cận có điều kiện địa hình khác nhau trong tỉnh Thái Nguyên.
- Nghiên cứu tập trung phân tích tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan trong trạng thái tĩnh (dựa trên số liệu khảo sát các năm 2014 – 2016), chưa lượng hóa được các kịch bản biến đổi khí hậu dài hạn (đến năm 2030 hoặc 2050) bằng các mô hình toán mô phỏng sinh trưởng cây trồng chuyên sâu (như DSSAT, APSIM).
- Tác động của biến đổi khí hậu được xem xét độc lập, chưa phân tách triệt để các yếu tố biến động về giá cả vật tư và thị trường tiêu thụ vĩ mô.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Thử nghiệm và đánh giá thêm các giống cây trồng mới có khả năng chịu hạn, kháng sâu bệnh và chịu lạnh vượt trội.
- Mở rộng quy mô nghiên cứu sang các hệ thống nông - lâm kết hợp trên đất dốc tại vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo thuộc địa bàn huyện Đại Từ.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp học, Phát triển Nông thôn và Kinh tế Nông nghiệp.
- Phần nội dung có giá trị ứng dụng cao:
- Bộ công cụ và bảng chỉ số đánh giá tích hợp 3 trụ cột (kinh tế, xã hội, môi trường) theo hướng dẫn của Zhen & Routray (2003) áp dụng cho quy mô cấp xã.
- Hệ thống công thức tính toán chi tiết giá trị sản xuất ($T$), thu nhập thuần ($N$), hiệu quả vốn ($H_v$) và giá trị ngày công ($H_{ld}$) trên đơn vị 1 ha đất canh tác.
- Dữ liệu thực chứng về mức độ chênh lệch giữa lượng phân bón vô cơ thực tế sử dụng và định mức khuyến cáo kỹ thuật tại vùng trung du miền núi phía Bắc.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận này đánh giá tổng cộng bao nhiêu mô hình canh tác tại xã Ký Phú?
Khóa luận đánh giá chi tiết 6 mô hình canh tác phổ biến tại xã Ký Phú: (1) Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai tây (SR-WR-P); (2) Lúa xuân – Lúa mùa – Đậu cô ve (SR-WR-H); (3) Lúa xuân – Lúa mùa – Ngô đông (SR-WR-WC); (4) Lúa xuân – Lúa mùa (SR-WR); (5) Lạc hè thu – Lạc đông xuân (SP-WP); (6) Mía đỏ – Lạc hè thu (RS-SP).
2. Mô hình canh tác nào mang lại thu nhập thuần và hiệu quả đồng vốn cao nhất trên 1 ha?
Mô hình chuyên màu Lạc hè thu – Lạc đông xuân (SP-WP) đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với thu nhập thuần đạt 87.254.440 VNĐ/ha/năm, hiệu quả đồng vốn đạt 4,94 lần và giá trị ngày công lao động đạt 181.780 VNĐ/công.
3. Biến đổi khí hậu gây ra những thiệt hại cụ thể nào đối với cây ngô tại xã Ký Phú?
Hạn hán kéo dài làm phát sinh bọ xít cờ và sâu đục thân; diện tích ngô trên đất nương đồi giảm xuống chỉ còn 40% so với giai đoạn 5-7 năm trước. Đặc biệt vào năm 2015, hạn hán xảy ra vào thời kỳ trổ cờ phun râu khiến diện tích ngô không hạt/lép hạt lên tới 70%.
4. Thực trạng sử dụng phân bón tại địa phương có điểm bất hợp lý nào về mặt môi trường?
Nông dân bón phân mất cân đối nghiêm trọng: sử dụng quá nhiều đạm và lân vô cơ (ví dụ lân bón cho lúa xuân đạt 830 – 833 kg/ha, trong khi khuyến cáo chỉ từ 450 – 500 kg/ha), trong khi hầu như không sử dụng phân hữu cơ; ngoài ra tập quán đốt rơm rạ sau thu hoạch làm cạn kiệt lượng chất hữu cơ trong đất.
5. Ba mô hình nào được lựa chọn là thích ứng tối ưu nhất với biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu?
Ba mô hình được lựa chọn đạt xếp loại tổng hợp mức Cao (H) trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường là: Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai tây (SR-WR-P), Lạc hè thu – Lạc đông xuân (SP-WP), và Mía đỏ – Lạc hè thu (RS-SP).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trần Thị Lành đã phân tích toàn diện hiện trạng sản xuất nông nghiệp và đánh giá định lượng 6 mô hình canh tác tại xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên dựa trên khung tiêu chí bền vững 3 trụ cột (kinh tế, xã hội, môi trường). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các mô hình canh tác truyền thống (chuyên lúa hoặc lúa - ngô) mang lại hiệu quả kinh tế thấp và dễ bị tổn thương trước các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán và rét đậm rét hại. Ba mô hình luân canh gồm Lúa xuân – Lúa mùa – Khoai tây, Lạc hè thu – Lạc đông xuân, và Mía đỏ – Lạc hè thu đã được chứng minh là các lựa chọn tối ưu, vừa mang lại hiệu quả đồng vốn và giá trị ngày công cao, vừa góp phần cải tạo độ phì của đất và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho cộng đồng nông thôn miền núi.