MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí hiện đang là vấn đề mang tính toàn cầu ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia, trong đó ngành vận tải chiếm hơn 2/3 lượng tiêu thụ dầu toàn cầu và thải ra 23% lượng khí carbon dioxide (CO2) liên quan đến năng lượng (IEA, 2009). Tỷ lệ này có thể tăng lên do quá trình cơ giới hóa nhanh chóng ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước ở châu Á. Ngoài việc là nguồn phát thải khí nhà kính (KNK) hàng đầu, ngành giao thông còn chịu trách nhiệm cho ô nhiễm không khí gia tăng ở các đô thị.
Điều này ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe người dân và theo ước tính của WHO, ô nhiễm không khí đô thị gây ra 1,3 triệu ca tử vong mỗi năm (WHO, 2011). Ngoài ra, tiếp xúc với khí thải từ phương tiện giao thông có thể gây ra các bệnh về tim mạch, phổi và hô hấp và một số tác động tiêu cực khác đến sức khỏe (Hedley và cộng sự, 2002). Do đó, cần phải đặt ra nhiệm vụ giảm phát thải khí thải cũng như KNK để cải thiện môi trường không khí và giảm phát thải KNK hướng đến mục tiêu dài hạn là giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Việt Nam được dự báo nằm trong nhóm các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu toàn cầu (UNDP, 2015).
Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM), một trong những trung tâm kinh tế và thương mại lớn nhất của Việt Nam, một thành phố có quá trình đô thị hóa nhanh chóng hiện đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường mà đặc biệt là ô nhiễm không khí (Vu và cộng sự, 2020). Chỉ số chất lượng không khí (AQI) tại Tp.HCM trung bình tháng 10/2022 là 72, ngày cao nhất đạt 96, nồng độ PM2.5 trung bình đạt 22,3 µg/m3 cao gấp 4,46 lần so với giá trị khuyến cáo của WHO (5 µg/m3) (IQAIR, 2022). Trong các lĩnh vực phát sinh ô nhiễm không khí tại Tp.HCM, khí nhà kính từ hoạt động giao thông vận tải đường bộ chiếm hơn 23% tổng lượng phát thải (Bang và cộng sự, 2022). Ô nhiễm không khí và ô nhiễm bụi PM2.5 được xem là nguyên nhân gây ra khoảng 1.136 ca tử vong tại Tp.HCM với số ca tử vong do tiếp xúc với NO2 và SO2 lần lượt là 172 và 89 ca (Khue và cộng sự, 2020).
1 Xe gắn máy hiện đang là phương tiện phổ biến tại Việt Nam nói chung và Tp. Tính đến tháng 12 năm 2022, theo Niên giám thống kê năm 2022, dân số Tp.HCM đạt 9,39 triệu người nhưng đã ghi nhận gần 8,7 triệu phương tiện giao thông cá nhân, trong đó có 7,8 triệu xe máy và 850 ngàn ô tô; bình quân mỗi ngày, Tp.000 phương tiện đăng ký mới (Hoàng, 2022). Nếu không có kế hoạch giảm phát thải cụ thể, dự báo nồng độ ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông vận tải của Tp.HCM đến năm 2025 sẽ tăng lên 30-50% và tăng 40-65% vào năm 2030 (Bang và cộng sự, 2019) và ảnh hưởng đến sức khỏe sẽ nghiêm trọng hơn. Theo quyết định số 568/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành tháng 04/2013, giao thông công cộng của Tp.HCM được quy hoạch đảm nhận mức thị phần từ 35%-45% vào năm 2030, trong đó 8 tuyến đường đường sắt đô thị được xây dựng với mục tiêu giảm dần thị phần giao thông cá nhân trên địa bàn Tp.HCM (Thủ tướng chính phủ, 2013) nhằm giảm ô nhiễm không khí và KNK phát sinh từ hoạt động giao thông.HCM cũng đã có Quyết định ban hành Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (BĐKH) trên địa bàn thành phố vào tháng 10/2020.
Nếu các nhiệm vụ này được thực hiện thì lượng KNK giảm được là 2.170 tấn/năm (tương đương giảm 5,2%) (Sở Tài nguyên Môi trường Tp. Tuy nhiên, vẫn cần nỗ lực hơn nữa để cùng với cả nước giảm phát thải KNK đạt khoảng 9% vào năm 2030 theo Nghị định số 4869/BTNMT-BĐKH do Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) ban hành và đạt mức phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 theo cam kết của Việt Nam tại Hội nghị các bên liên quan về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc lần thứ 26 (COP26). Những năm gần đây, hướng tiếp cận đồng lợi ích đã được đề cao tại các nước đang phát triển, nơi phải đối mặt đồng thời với nhiều thách thức (phát triển kinh tế, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu) trong khi năng lực và nguồn lực vẫn còn nhiều hạn chế. Đồng lợi ích được đánh giá là cầu nối quan trọng trong các vấn đề về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững (Castillo và cộng sự, 2007).
Trong lĩnh vực giao thông công cộng đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về đồng lợi ích bao gồm giảm ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu, tiết kiệm năng lượng và tăng cường sức khỏe người dân (Kwan & 2 Hashim, 2016). Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu liên quan đến lượng giá đồng lợi ích trong lĩnh vực giao thông công cộng (Dũng và cộng sự, 2011; Dũng và cộng sự, 2019; Trung và cộng sự, 2022; Nguyen và cộng sự, 2021), …Tuy nhiên, nghiên cứu trước đây chủ yếu là Thủ đô Hà Nội, chưa có nghiên cứu riêng về đường sắt đô thị (Metro) tại Tp. Vì vậy, đề tài của luận văn “Đánh giá đồng lợi ích về giảm ô nhiễm không khí và giảm nhẹ biến đổi khí hậu của tuyến Metro số 1, Tp. Hồ Chí Minh” đã được học viên lựa chọn thực hiện nhằm cung cấp bức tranh cụ thể hơn về tiềm năng đồng lợi ích về môi trường, cải thiện chất lượng không khí và giảm phát thải khí nhà kính đối với tuyến Metro số 1 tại Tp.
Mục tiêu nghiên cứu a) Mục tiêu tổng quát Đánh giá đồng lợi ích về giảm thiểu ô nhiễm không khí và giảm nhẹ biến đổi khí hậu trong việc thay thế các phương tiện giao thông vận chuyển hành khách đường bộ hiện hữu bằng tuyến Metro số 1 (Bến Thành – Suối Tiên) tại Tp. b) Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, các mục tiêu cụ thể gồm: (i) Định lượng phát thải khí thải từ xe máy, xe hơi và xe buýt hiện hữu trên tuyến đường bộ song hành với tuyến Metro số 1 (chưa có tuyến Metro số 1). (ii) Định lượng phát thải khí thải và KNK trên tuyến đường bộ song hành với tuyến Metro số 1 khi có thêm tuyến Metro số 1. (iii) Mô phỏng nồng độ khí thải phát sinh từ các phương tiện vận tải hành khách trên tuyến đường song hành trước và sau khi có tuyến Metro số 1.
(iv) Đánh giá đồng lợi ích về giảm nhẹ biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí khi tuyến Metro số 1 đi vào hoạt động. (v) Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tuyến Metro số 1 để đạt được đồng lợi ích về giảm phát thải KNK và giảm ô nhiễm không khí. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a) Đối tượng nghiên cứu Đối tượng cứu của đề tài là các phương tiện giao thông vận chuyển hành khách đường bộ lưu thông trên tuyến đường bộ song hành với tuyến Metro số 1, cụ thể là xe hơi, xe buýt/khách và xe máy. Các chất ô nhiễm không khí phát sinh từ hoạt động giao thông đường bộ gồm: CO, NOx, SO2, PM2.5, NMVOC và khí nhà kính: CO2, N2O, CH4.
b) Phạm vi nghiên cứu Đề tài thực hiện nghiên cứu trên tuyến đường bộ song hành với tuyến Metro số 1 bắt đầu từ ga Metro Bến Thành đến ga Metro Bến Xe Suối Tiên, bao gồm các đường: Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Lê Lai, Pasteur, Lý Tự Trọng, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Hữu Cảnh, Điện Biên Phủ và Xa Lộ Hà Nội. Đây là tuyến đường bộ được lựa chọn để nghiên cứu vì tuyến đường này song hành với tuyến Metro số 1 và các phương tiện vận chuyển hành khách hiện hữu có thể lưu thông từ ga Metro Bến Thành đến ga Metro Bến Xe Suối Tiên, ngoài ra đây là tuyến gồm các đường có lưu lượng xe lớn và phương tiện vận chuyển hành khách công cộng (xe buýt) được phép lưu thông. Tuyến đường này gồm 02 loại đường chính là đường nội thị chính (đường nối các quận có lưu lượng xe lớn) và đường cao tốc (gồm đường cao tốc và các đường Quốc lộ hiện hữu). Tuyến đường bộ song hành với tuyến Metro số 1 (Bến Thành – Suối Tiên) Nguồn: Google map 4.
Nội dung nghiên cứu Để đạt các mục tiêu cụ thể nêu trên, các nội dung sau đây đã được thực hiện: (i) Tính phát thải khí thải từ xe máy, xe hơi và xe buýt hiện hữu trên tuyến đường bộ song hành với tuyến Metro số 1 (chưa có tuyến Metro số 1). (ii) Tính phát thải khí thải và KNK trên tuyến đường bộ song hành với tuyến Metro số 1 khi có thêm tuyến Metro số 1. (iii) Mô phỏng lan truyền chất lượng không khí nguồn thải giao thông bằng hệ mô hình TAPM – AERMOD. (iv) Đánh giá đồng lợi ích về giảm nhẹ biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí khi tuyến Metro số 1 đi vào hoạt động.
(v) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tuyến Metro số 1 để đạt được đồng lợi ích về giảm phát thải KNK và giảm ô nhiễm không khí. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được các nội dung nêu trên, các phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sau đây đã được sử dụng: 5 - Phương pháp thu thập dữ liệu và thông tin, khảo sát, thống kê, tổng hợp và phân tích các số liệu cơ sở sử dụng làm đầu vào cho các tính toán. - Phương pháp tính toán phát thải bằng mô hình EMISENS để tính phát thải ô nhiễm không khí và KNK làm đầu vào cho mô hình AERMOD và là cơ sở đánh giá đồng lợi ích về ô nhiễm không khí và KNK. - Phương pháp Mô phỏng lan truyền ô nhiễm không khí bằng hệ mô hình TAPM - AERMOD để làm cơ sở lượng giá đồng lợi ích về ô nhiễm không khí.
- Phương pháp đánh giá đồng lợi ích về giảm nhẹ BĐKH và ô nhiễm không khí 6. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu a) Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ định lượng đồng lợi ích khi thay thế một phần phương tiện giao thông hiện hữu bằng tuyến Metro số 1. Với các số liệu thu thập được từ các Sở, Ban, Ngành chức năng, cùng với việc khảo sát thực tế số liệu trên tuyến đường trong phạm vi nghiên cứu, kết quả này đảm bảo độ tin cậy và tính xác thực. b) Ý nghĩa thực tiễn Hệ thống giao thông công cộng tại Tp.