Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình SD/SXHD trên thế giói và Việt Nam 1. Tình hình SD/SXHD trên thế giới SXH là bệnh do virus (VR) truyền qua muỗi lây lan nhanh nhất trên thế giới [38]. Dịch SD/SXHD được biết đến cách đây ba thế kỷ ở các nước có kill hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới [21].
Dịch SD/SXHD đầu tiên được ghi nhận vào năm 1635 ở vùng Tây Án Độ là thuộc địa của Pháp, trước đó, vào đầu năm 992 sau công nguyên, đã có một bệnh tương tự như sot dengue (SD)cũng đã được ghi nhận ở Trung Quốc. Năm 1780, có tác giả đã mô tả một bệnh có tên gọi là bệnh “sốt gãy xương” ở Phi-la- đen-phi -a, có thể là đây chính là bệnh sot dengue. Vụ dịch đầu tiên được khẳng định là SXHD được ghi nhận ở Philippines vào năm 1953-1954. Từ đó, nhiều vụ dịch SD/SXHD lớn đã xảy ra ở hầu hết các nước Đông Nam Á với tỷ lệ tử vong cao, bao gồm Án Độ, In-đô-nê-xi-a, Thái lan và các nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương như Xin-ga-po, Cam-pu-chia, Trung quốc, Lào, Phi-lip-pin, Việt Nam [21], Biểu đồ 1.
Số mắc SD/SXHD trung bình hàng năm trên thế giói [38], [39]. 6 Tỷ lệ mắc bệnh SXH đã tăng đáng kể trong những năm thập kỷ gần đây. Khoảng 2/5 dân sổ thế giới đang có nguy cơ. Bệnh SXH được tìm thấy ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới, chủ yếu ở khu vực thành thị và bán đô thị.
SD/SXHD là một nguyên nhân hàng đầu gây bệnh nặng và tử vong ở trẻ em ở một số nước châu Á. Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh SXH, nhưng chăm sóc y tế kịp thời sẽ cứu sống được bệnh nhân SXH nặng. Cách duy nhất để ngăn chặn sự lây truyền VR SXH là chổng muỗi mang bệnh [40]. Dengue, countries or areas at risk, 2010 SXHD một biến chứng có khả năng gây chết người, lần đầu tiên được công nhận trong những năm 1950, trong dịch SXH tại Việt Nam và Thái Lan.
Hiện nay SXH ảnh hưởng đến hầu hết các nước châu Á và đã trở thành nguyên nhân hàng đầu của nhập viện và tử vong ở trẻ em trong khu vực [40]. Hiện nay, những khu vực có khí hậu nhiệt đới đều là những vùng có nguy cơ bị dịch cao với tất cả 4 tip vi rút lưu hành đồng thời, đó là các khu vực châu Mỹ, châu Á, Thái Bình Dương và châu Phi [21]. 7 SXH là một trong những gánh nặng về sức khoẻ cộng đồng và là mối quan tâm chủ yếu của lĩnh vực y tế công cộng trên toàn thể giới. Năm 2007 Venezuela hơn 80 000 ca, trong đó có 6.000 ca mắc SXH [40].
Trong các khu vực chịu ảnh hưởng về bệnh SXHD, vùng có mức độ ảnh hưởng nặng nề nhất là Đông Nam châu Á và Tây Thái Bình Dương trong đó phải kể đến các nước có tỷ lệ chết và mắc cao trong những năm gần đây như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Lào, Campuchia. Sau vụ dịch SXHD lớn năm 1998 xảy ra ở hầu hết các nước trong khu vực, năm 2003, năm 2004, 2009 và 2010 một sổ vụ dịch SXHD lại bùng nổ ở một số nước trong khu vực. Tại Indonesia 6 tháng đầu năm 2004 ghi nhận 59.321 trường hợp mắc, 669 ca tử vong và tại thời điểm này các vụ dịch SXHD vẫn chưa được khống chế. Tại Singapore, năm 2004 là năm có số mắc SXHD cao nhất kể từ năm 1998, số mắc ghi nhận lên tới 8.500 trường hợp, cao gấp 2 lần năm 2003 và là số mắc cao nhất trong 10 năm trở lại đây ở nước này.
Malaysia cũng ghi nhận tới 33.203/58 trường hợp mắc/chết trong năm 2004, số mắc cao nhất kể từ năm 1999 tại nước này. Một số nước khác trong khu vực cũng ghi nhận có tỷ lệ chết/mắc do SXHD cao là Philippines (0,7%), Srilanca (0,6%) [13], [31], [38] 1. Tình hình SD/SXH tại Việt Nam Việt Nam được coi là vùng dịch SXH lưu hành địa phương, chủ yếu ở các tỉnh miền Nam và Nam Trung Bộ. Tỷ lệ mắc hàng năm dao động trong khoảng 40- 310/100.
Khu vực miền Nam thường xuyên chiếm trên 70% các ca mắc mới. Tỷ lệ tử vong có thể hơn 1/100. 8 Bàn đồ phân bố số mắc sốt xuất huyết/100.000 dân bình quân năm theo tỉnh/thành phố năm 2006 - 2010 Bản đồ 1. Phân bố mắc SXH/100 000 dân bình quân năm theo tỉnh/thành phố năm 2006-2010 [8].
Chu kỳ của dịch thường SD/SXHD khoảng từ 3-5 năm. Ở Việt Nam, các đỉnh dịch SD/SXHD lớn thường rơi vào các năm 1987, 1998, 2007 [10]. Do đặc điểm địa lý, khí hậu khác nhau, miền Nam và Nam Trung Bộ bệnh xuất hiện quanh năm, ở miền Bắc bệnh thường xẩy ra từ tháng 4 đến tháng 11, những tháng khác bệnh ít xẩy ra vì thời tiết lạnh, ít mưa, không thích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của muỗi Aedes aegypti. Bệnh SD/SXHD phát triển nhiều nhất vào các tháng 7, 8, 9, 9 10 trong năm [3], [4], [30], [36].
Bệnh có xu hướng lan truyền từ thành phố lớn đến thành phố nhỏ, tới các làng mạc, những nơi có véc tơ, chủ yếu là muỗi Aedes aegypti [22]. Cũng như xu hướng diễn biến phức tạp của bệnh SD/SXHD trên thế giới, tại Việt Nam, bệnh SD/SXHD có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, nguy cơ bùng phát dịch là rất lớn. Trong giai đoạn trước, đỉnh dịch SD/SXHD thường xuất hiện sớm vào các tháng 5-6 trong năm với số lượng ca mắc trong những tháng cao điểm dưới 10.000 trường hợp. Trong những năm gần đây, dịch thường xuất hiện muộn, vào thời điểm từ tháng 9-10 và thường kéo dài sang đầu năm sau, số ca mắc trong những tháng đỉnh dịch lên tới trên 10.000 trường hợp [11].
Theo báo cáo đánh giá kết quả hoạt động năm 2006-2009 của dự án PC SXH thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội trong thời gian 9 năm triển khai từ năm 1999-2007, số mắc trung bình năm là 54.911 trường họp/năm, tử vong trung bình năm là 69 trường hợp/năm, tỷ lệ mắc /100.000 dân giai đoạn 1999-2007 là 65,3/100. Năm 2007 là những năm có số mắc, tử vong cao nhất trong giai đoạn 1999-2007 với 104.465 trường hợp mắc, tủ' vong 88. trong giai đoạn 2006-2009, số mắc trung bình năm là 89,816 trường hợp/năm, tử vong trung bình năm là 89,816 trường hợp/năm, tử vong trung bình hàng năm là 80 trường họp /năm. Tỷ lệ mắc trung bình hàng năm tăng 73%, tỷ lệ tử vong tăng 9% so với giai đoạn 2001-2005 [11].
Năm 2009 tỉ lệ mắc bệnh cao nhất được ghi nhận chủ yếu ở ba khu vực so với năm 2008. Miền Trung (tăng 1.3 lần), miền Bắc (tăng 5 lần), Tây Nguyên (tăng 1,5 lần) [23]. Năm 2010 cả nước ghi nhận 125.854 trường hợp mắc SD/SXHD và 100 trường họp tử vong, số mắc tăng 24% so với cùng kỳ năm 2009, số tử vong tăng 19 trường hợp. Số mắc và số tử vong do SXH tăng ở 3 khu vực miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam.
Đặc biệt tăng cao ở khu vực Tây Nguyên (tăng 9 lần), miền Trung (tăng 3,3 lần), riêng khu vực miền Bắc giảm 71% so với cùng kỳ năm 2009 và không có ca tử vong nào [24]. Năm 2011 tích lũy từ đầu năm đến nay cả nước ghi nhận 24.693 trường hợp mắc, 23 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ năm 2010 số mắc giảm 24%, tử vong giảm 3 trường hợp [9]. Tình hình mắc sốt xuất huyết tuần năm 2011 [9].1 Tình hình mẳc và chết SXH ỏ' Việt Nam tù' 2000 - 2011 (Nguồn: Cỉĩương trình mục tiêu quốc gia phòng chống SD/SXHD) Năm Số mắc Tỷ lệ mắc/100.000 dân Số chết Tỷ lệ chết/mắc (%) 2000 24.
Tình hình SD/SXHD tại Hà Nội. Hà Nội SD/SXHD là bệnh lưu hành địa phương, bệnh có khả năng diễn biến phức tạp do sự ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ như: đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, di biến động dân cư lớn, nhiều khu vực dân cư thiếu nước sạch, vệ sinh môi trường kém, nhất là nơi học sinh, sinh viên, người ngoại tỉnh thuê trọ, các làng nghề buôn bán phế liệu, phế thải, các công trình xây dựng nhiều DCCN tạo điều kiện cho muỗi sinh sản, cuộc sống sinh hoạt tạm bợ của công nhân xây dựng. Bên cạnh đó thời tiết phức tạp thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của véc tơ truyền bệnh SXH làm tăng nguy cơ bùng phát dịch [20].090 SD/SXHD, số mắc tăng 6,7 lần so với năm 2008, tử vong 04 ca. Bệnh nhân phân bố ở 29/29 quận huyện với 521/577 xã phường (90,3%), số quận huyện và xã phường có bệnh nhân đều tăng so với cùng kỳ năm 2008.
Dịch tản phát trên toàn thành phố chủ yểu là O dịch nhỏ [20].122 ca nghi mac SXH, không có ca tử vong, số mắc giảm 80,1% so với cùng kỳ năm 2009 (16. BN phân bố ở 29/29 quận huyện. Tỷ lệ xã phường có BN giảm 24,3% so với cùng kỳ năm 2009. số mắc vẫn tập trung chủ yểu ở khu vực nội thành (chiếm 76%) như Thanh Xuân, Đổng Đa, Hoàng Mai, Hai Bà Trưng.
và các huyện ngoại thành nơi đô thị hóa cao như Từ Liêm, Thanh Trì. 60% bệnh nhân là đối tượng học sinh, sinh viên, người lao động tự do và người ngoại tỉnh. BN xuất hiện ngay từ đầu năm. số ca mắc cao nhất ghi nhận trong tháng 9, tháng 10, sau đó số mắc giảm nhanh vào 2 tháng tiếp theo.
Các chỉ số véc tơ luôn ở mức cao [24], Quận thanh Xuân là quận có mật độ đông dân, nhiều khu tập thể cao tầng xen kẽ lẫn với khu dân cư, khu nhà tạm cho sinh viên thuê, các cơ sở sản xuất công nghiệp, thu nhập và trình độ dân trí của người dân không đồng đều, có nhiều lao động nhập cư từ các tỉnh khác đến gây tình trạng vệ sinh môi trường phức tạp, thêm vào đó tình trạng thiếu nước sinh hoạt như các phường Phương Liệt, Khương Đình, Thượng Đình, Hạ Đình, vì vậy nhân dân phải tích trữ nước, là điều kiện thuận lợi cho dịch SXH. Trong những năm gần đây, theo kết quả giám sát dịch SXH gia tăng nhanh [25], Quận Thanh Xuân tính đến hết tháng 6 có 10 BN mắc SXH [26]. Tình hình mắc SXH của quận Thanh Xuân từ năm 2001-2011 (Nguồn: Bảo cảo công tác phòng chổng dịch quận Thanh xuân năm 2011) STT Năm Số ca mắc 1 2001 15 2 2002 14 3 2003 120 4 2004 50 5 2005 158 6 2006 462 7 2007 618 8 2008 410 9 2009 1874 10 2010 199 6/11 2011 10 Phường Phương Liệt là một trong nhũng phường điểm về SXH, số mắc cũng gia tăng nhanh trong nhũng năm gần đây, đặc biệt là năm 2009 (161 BN).