CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN VỐN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CỦA DNNVV. Tổng quan về tín dụng ngân hàng đối với DNNVV 1. Cơ sở lý luận về DNNVV 1.
Khái niệm DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một trong những đối tượng doanh nghiệp có đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tùy thuộc điều kiện kinh tế - xã hội, chiến lược, mục tiêu và định hướng của mỗi quốc gia, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung doanh nghiệp nhỏ và vừa có chung một nội dung như sau: DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh vì lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp giới hạn theo các tiêu thức như: số lao động, tổng nguồn vốn, tổng tài sản hay doanh thu hàng năm, và các tiêu thức khác thay đổi theo từng thời kỳ nhất định của mỗi quốc gia. Theo quan niệm của ngân hàng thế giới (WB) và công ty tài chính quốc tế (IFC) thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô vốn, lao động và doanh thu nhỏ.
Trong khi đó, theo khối liên minh Châu Âu EU, DNNVV là những doanh nghiệp có dưới 250 nhân công và doanh số hàng năm dưới 50 triệu Euro, được chia thành ba loại: siêu nhỏ, nhỏ và vừa (Bảng 1.2, phụ lục 3) Ở Việt Nam, theo quy định tại điều 3, nghị định số 56/2009/NĐ-CP của chính phủ ngày 30 tháng 06 năm 2009 của Chính phủ: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Ngoài các tiêu chí của nghị định này còn căn cứ vào ngành nghề hoạt động để phân loại, cụ thể được thể hiện ở bảng 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Ưu điểm của DNNVV Thứ nhất: năng động, linh hoạt, thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường Các DNNVV có mức đầu tư ban đầu thấp, sử dụng ít lao động và tận dụng các nguồn lực tại chỗ nên có thể dễ dàng chuyển đổi phương thức sản xuất kinh doanh, đổi mới trang 5 thiết bị kĩ thuật, thay đổi mặt bằng kinh doanh, loại hình doanh nghiệp, chuyển hướng kinh doanh hay thậm chí dễ dàng giải thể doanh nghiệp. Thứ hai, các DNNVV được thành lập dễ dàng do vốn đầu tư ít Các DNNVV cần một số vốn rất thấp, mặt bằng không lớn, điều kiện sản xuất đơn giản là có thể bắt đầu hoạt động.
Vì vậy, số lượng DNNVV tăng rất nhanh, và chiếm tỷ lệ tuyệt đối trong tổng số các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Thứ ba, yêu cầu công nghệ không cao, sử dụng chủ yếu là lao động thủ công Các DNNVV thường sử dụng các loại máy móc công nghệ trung bình, đòi hỏi sử dụng nhiều lao động nên góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Thứ tư, DNNVV chỉ cần diện tích nhỏ, đòi hỏi cơ sở hạ tầng không quá cao Do quy mô nhỏ nên các DNNVV có thể đặt được ở nhiều nơi trong nước từ thành thị đến nông thôn, miền núi, hải đảo. Bộ máy tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định.
Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ, DNNVV có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng. Hạn chế của DNNVV Thứ nhất, quy mô nhỏ, vốn ít: Vốn kinh doanh chủ yếu là vốn tự có của chủ doanh nghiệp, hoặc vay mượn từ người thân, bạn bè, khả năng tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng thấp. Đặc điểm này đã làm cho các DNNVV gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thường phải thuê mặt bằng với diện tích hạn chế, cách xa trung tâm, hoặc sử dụng đất riêng của mình làm mặt bằng sản xuất kinh doanh. Thứ hai, khả năng tiếp cận thị trường kém: Do quy mô nhỏ và khả năng tài chính cho hoạt động marketing hạn hẹp, quy mô thị trường bó hẹp trong phạm vi địa phương nên khả năng tiếp cận thị trường kém, thiếu khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, khó khăn trong việc thiết lập và mở rộng hợp tác với bên ngoài.
Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực thấp Phần lớn các DNNVV sử dụng lao động giản đơn, trình độ tay nghề của người lao động thấp, thiếu đội ngũ quản lý có trình độ và kỹ năng quản lý. Chủ DNNVV thường không đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê lao động có tay nghề cao do hạn chế về khả năng tài chính. Bên cạnh đó, định kiến của người lao động với các doanh 6 nghiệp khu vực này vẫn còn khá lớn do rủi ro mất việc, không ổn định, lương thấp, không có cơ hội thăng tiến; do đó DNNVV không thu hút được đội ngũ lao động chất lượng cao. Số lao động mà các DNNVV sử dụng khá lớn, tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương DNNVV sử dụng trên 60% lao động, tại Nhật Bản khoảng 75%.
(Tạp chí dân chủ và phát luật, 03/2014) Bộ máy quản lý thường gọn nhẹ, trình độ tổ chức quản lý chưa cao: Các DNNVV được thành lập và hoạt động chủ yếu dựa vào năng lực và kinh nghiệm của bản thân chủ doanh nghiệp, không được đào tạo qua trường lớp hay khóa quản lý chính quy nên tổ chức bộ máy rất gọn nhẹ, các quyết định trong quản lý cũng được thực hiện nhanh chóng. Chủ doanh nghiệp vừa quản lý doanh nghiệp, vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý không cao. Trình độ công nghệ thấp, năng suất lao động kém: do đa số DNNVV được thành lập với số vốn ban đầu rất hạn chế nên trang bị máy móc thiết bị lạc hậu, khó có khả năng đầu tư công nghệ mới, hiện đại do chi phí đầu tư công nghệ mới và kỹ thuật hiện đại cao thường vượt quá khả năng của các DNNVV. Điều này dẫn đến năng suất lao động của DNNVV thấp, khả năng cạnh tranh kém từ đó dẫn đến không đủ năng lực vay vốn để nâng cấp, mua mới các trang thiết bị và công nghệ hiện đại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Doanh nghiệp nhỏ và vừa là bộ phận cấu thành quan trọng không thể thiếu trong nền kinh tế, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, có mối tương hỗ không thể tách rời nhau với các tập đoàn kinh tế, đặc biệt trong công nghệ bổ trợ và phân phối sản phẩm. DNNVV chiếm đa số tuyệt đối trong tổng cơ cấu các doanh nghiệp, thông thường tỷ lệ này từ 90%- 98%. Ví dụ, tại các nước khối EU khoảng 90%, tại Mỹ: 98%, tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương: 96%, tại Nhật Bản: 98% và tại Việt Nam là khoảng 97%. Theo đánh giá của ngân hàng thế giới (World Bank), các DNNVV đang chiếm khoảng 60% GDP và 70% lực lượng lao động tại những nước có tổng thu nhập quốc dân (GNP) từ 100- 7 500USD/năm/người, đóng góp 50% GDP và chiếm 65% lực lượng lao động tại các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).
DNNVV đóng góp vào ngân sách nhà nước: DNNVV chiếm khoảng 90% số lượng doanh nghiệp trên toàn thế giới. Với một lực lượng hùng hậu như vậy, giá trị mà nó mang lại cho nền kinh tế rất lớn, đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước thông qua việc nộp thuế. (Bộ Kế Hoạch và đầu tư, 2008) DNNVV góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế: các DNNVV hầu hết hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp, hầu hết là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Với số lượng lao động khoảng 90% tổng số lượng doanh nghiệp thì các DNNVV cũng có những đóng góp hết sức quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần kinh tế ở các quốc gia.
DNNVV góp phần làm tăng năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế: Với số lượng DNNVV ngày càng lớn làm tăng tính cạnh tranh, hạn chế sự độc quyền đồng thời cũng làm phong phú thêm số lượng, chủng loại hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế. DNNVV góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, và giải quyết các vấn đề xã hội. Ngoài việc đóng góp cho sự phát triển kinh tế, DNNVV còn tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, tạo thu nhập ổn định và cải thiện cuộc sống của người lao động. DNNVV có vai trò rất lớn trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, hiện tại DNNVV chưa phát triển đúng với tiềm năng vốn có của nó, và chưa phát huy vai trò một cách tối đa do những khó khăn mà DNNVV gặp phải trong quá trình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là khó khăn về nguồn vốn để mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường. Quy mô vốn và cách tiếp cận nguồn vốn của DNNVV Do xuất phát điểm của DNNVV thấp, lại khó tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính thức nên nguồn vốn kinh doanh của DNNVV được hình thành chủ yếu từ vốn chủ sở hữu, vốn vay và lợi nhuận chưa phân phối. + Huy động nguồn vốn tự có: đây là nguồn vốn góp ban đầu của các chủ sở hữu khi thành lập doanh nghiệp. Tùy theo hình thức sở hữu doanh nghiệp mà nguồn vốn này hình thành dưới các hình thức khác nhau.
+ Huy động vốn từ lợi nhuận sau thuế: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh được giữ lại một phần để tái đầu tư, qua đó làm tăng vốn chủ sở hữu. Hoặc bên cạnh việc giữ lại một 8 phần lợi nhuận, doanh nghiệp có thể tiến hành việc phân chia lợi nhuận cho các cổ đông dưới dạng cổ phần để làm tăng vốn chủ sở hữu cho doanh nghiệp. + Huy động nguồn vốn bằng cách kết nạp thêm thành viên mới: Các thành viên mới thường là có quan hệ quen biết từ trước: bạn bè, người thân. Về phía doanh nghiệp, hình thức huy động này có thể dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư cũ phải phân chia quyền kiểm soát doanh nghiệp và lợi ích kinh tế cho nhà đầu tư mới.
Về phía các nhà đầu tư, các DNNVV kém hấp dẫn là vì các doanh nghiệp này chưa có sự minh bạch về tài chính, chưa có kế hoạch, phương án kinh doanh cụ thể.