Đặt vấn đề Nước ta là một nước nông nghiệp, hơn 80% dân số sống ở nông thôn, 70% lực lượng xã hội tham gia sản xuất nông nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp có 2 ngành sản xuất chính là trồng trọt và chăn nuôi bên cạnh trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con người, ngoài ra còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến. Trong những năm gần đây, sự du nhập các giống mới, đặc biệt là các giống nhập nội có năng suất cao đã làm suy giảm nguồn gen của các giống bản địa một cách nhanh chóng.
Hoạt động này đã làm mai một đi nguồn gen bản địa và gây nên những tổn thất nguồn gen rất đáng tiếc trong bảo tồn đa dạng sinh học. Thực tiễn tại nước ta, việc mở rộng giao lưu, giao thông, giao thương và triển khai mạnh mẽ các chương trình khuyến nông đã mang đến các giống/dòng vật nuôi mới có năng suất cao đã gây áp lực rất lớn đến những giống nội địa với năng suất thấp bị giảm dần, thậm chí có những giống/dòng đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng hoặc bị lai tạp. Gà Cáy Củm là một giống gà địa phương được nuôi chăn thả tự do. Vì chưa được người dân chú trọng cả về phòng dịch bệnh cho gà Cáy Củm, cho nên gà Cáy Củm đang ngày mất dần đi, số lượng còn rất ít được nuôi rải rác tại một số hộ dân của người dân tộc H’mông ở vùng sâu, vùng xa địa hình hẻo lánh.
Để mọi người biết đến về giống gà Cáy Củm và chăn nuôi đạt năng suất, hiệu quả cao thì cần đánh giá so sánh phương thức chăm sóc, nuôi dưỡng thích hợp mới phát huy hiệu quả và nhân đàn nhanh. c 2 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất, nhằm bảo tồn nguồn gen, khai thác và phát triển giống gà Cáy Củm, bước đầu chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài „„Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của gà cáy củm nuôi thương phẩm tại Thái Nguyên’’. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của gà Cáy Củm từ 01 –20 tuần tuổi tại điều kiện Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài sẽ đóng góp vào nghiên cứu khả năng nuôi gà Cáy Củm phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tri thức bản địa của khu vực miền núi.
Kết quả đề tài là cơ sở cho người chăn nuôi áp dụng vào việc chăn nuôi gà Cáy Củm tại điều kiện miền núi để cung cấp các sản phẩm đặc sản. - Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho người chăn nuôi áp dụng chăn nuôi gà Cáy Củm nuôi gà đạt hiệu quả cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào vùng cao. Kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở quan trọng cho việc đánh giá giá trị giống của một giống gà Cáy Củm của nước ta, từ đó làm cơ sở khoa học vững chắc cho việc bảo tồn giống gà này trong tương lai. c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Giới thiệu về giống gà Cáy Củm Gà Cáy Củm hay còn gọi là gà cúp (gà không có phao câu). Gà Cáy Củm đã được nuôi từ lâu đời tại xãĐức Xuân và Ngũ Lão (huyện Hòa An) và xã Lưu Ngọc (huyện Trà Lĩnh, CaoBằng) và rải rác tại một số xã thuộc huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang), dùng làm thực phẩm của người H’Mông, thịt rất thơm, ngon, không dùng cúng lễ, thắp hương giống gà này do thiếu phao câu. Hiện nay,giống gà này giảm số lượng và chỉ được nuôi xen kẽ rất ít ở các hộ người H’Mông.
Một số đặc điểm về ngoại hình và tập tính của gà * Đặc điểm về ngoại hình Lông: Màu sắc của lông đa dạng giống gà Ri: Màu lông nâu, xám, hoa mơ, vàng cósọc đen, ánh xanh cánh sả, đen… Lông mượt và nhiều.Lúc mới nở và còn nhỏ con trống và con mái có màu lông giống nhau. Khi trưởng thành:Con trống: Màu lông con trống rực rỡ, đẹp mắt. Màu sắc lông đa dạng: nâu đỏ, xám, nâu, đen, ánh vàng. Con mái: Màu nâu, xám, vàng nâu, đen.
Lông mềm sang có màu nâu,xám, lông trắng sọc đen. Đặc biệt là lông đuôi cúp xuống (vì không có phao câu). Mào: Mào đơn, mào dâu, màu đỏ. Tầm vóc: Tầm vóc thanh gọn, thân tương đối ngắn, chân cao vừa phải, màobé, xương nhỏ, lông xếp xít vào thân.
Màu mắt: Đen, nâu. Màu dái tai: Trắng đỏ, trắng c 4 Màu sắc chân: Chủ yếu có màu vàng, có một số màu đen, nâu. Phao câu: Không có. * Đặc điểm về tập tính Sống theo đàn, tính tình hiền lành, linh hoạt, nhanh nhẹ.
Khả năng sản xuất * Khối lượng gà trưởng thành: Con trống: 2,0 – 2. Tuổi thành dục: Trống: 150 ngày Mái: 130 ngày Tuổi đẻ lứa đầu: 150 ngày Sản lượng trứng: 13 – 16 quả/lứa, 130 – 150 quả/năm. Trọng lượng trứng: 40 – 50 gam/ quả. Vỏ trứng thường có màu trắng, một số ít có màu nâu.
Khoảng cách lứa đẻ: Trung bình 20 ngày. Thời gian ấp nở: 21 ngày Tỷ lệ ấp nở là: 80%. Đặc điểm sinh trƣởng và phát dục của gà 2. Khái niệm * Khái niệm sinh trưởng: Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lênvề chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể convật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước.
“Thực chất của sinh trưởng chính làtăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thể”.Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992), [11] đã khái quát: “Sinhtrưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là c 5 sự tăng chiềucao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể trên cơ sởtính di truyền có từ đời trước”. - Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thểhay từng bộ phận cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian. - Sinh trưởng tương đối: Là phần khối lượng kích thước, thể tích của toàn cơthể hay từng bộ phận cơ thể tại thời điểm sinh trưởng sau tăng lên so với thời điểmsinh trưởng trước. * Khái niệm phát dục: Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi, tăng thêmvà hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của cơ quan, bộ phận trong cơ thể, nhờ vậyvật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống (DươngMạnh Hùng,2008) [2]).
Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa Theo Nguyễn Duy Hoan, 1998 [1]: Tiêu hóa là quá trình phân giải các chấtdinh dưỡng trong thức ăn từ những hợp chất hóa học phức tạp thành những hợp chấtđơn giản mà cơ thể gia cầm có thể hấp thu và lợi dụng được. Cơ quan tiêu hóa gồm: Khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quảndưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt, đồngthời có sự tham gia của gan và tụy.Gà không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai trò lấy thức ăn chứkhông có tác dụng nghiền nhỏ. Mỏ chia làm 3 phần: Đầu mỏ, thân mỏ và gốc mỏ.Hầu ở giữa khoang miệng và thực quản trên. Khoang mũi và miệng thông vềphía hầu, phía trước hầu có khe hô hấp của thanh quản.Thực quản chia làm 2 phần: Phần trên bắt đầu từ hầu và tận cùng là ở diều,phần dưới từ diều đến dạ dày tuyến.
Thực quản có dạng ống, đường kính gàtrưởng thành khoảng 7- 9 mm.Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực. Diều được hình thànhtrong quá trình phát triển tiến hóa của ống tiêu hóa để dự trữ và chuẩn bị tiêu hóathức ăn. c 6 Dạ dày gồm hai phần là dạ dày cơ và dạ dày tuyến. Dạ dày cơ có dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau và có thành rất dày, cómàu đỏ thẫm.Dạ dày tuyến giống như cái bao túi.Ruột chiều dài của ruột phụ thuộc vào loài, tuổi và đặc điểm thức ăn.
Chiềudài là 170 cm gấp 6 lần chiều dài của thân. Ruột được chia làm 2 phần: ruột non vàruột già. Trong phần ruột non gồm: Tá tràng, ruột non và hồi tràng. Ở khoảng giữaphần ruột non có mấu vàng thô sơ phân chia ruột non với hồi tràng.
Phần ruột già cómanh tràng và trực tràng. Ruột già không phát triển, nó do trực tràng thô ngắn vàhai manh tràng đổ vào đoạn đầu trực tràng tạo thành. Trực tràng thông ra lỗ huyệt. Tuyến tụy nằm ở đoạn vòng tá tràng có dạng dải và màu vàng.
Gan là một trong những tuyến to nhất, gan gà nặng 30- 40g. Gan tiết ra dịchmật đổ vào tá tràng, gan thực hiện chức năng bảo vệ: Tiêu các chất độc xuất hiệntrong máu từ ruột vào dạ dày. Ở giai đoạn bào thai, gan thực hiện chức năng tạomáu. Gan nằm sau tim, có màu xám hoặc màu vàng.
Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt Gà con lúc mới nở còn rất yếu nên chúng cần phải có những điều kiện môitrường đặc biệt.Do nhiệt độ của cơ thể cao, gà con có lớp lông tơ mỏng manh và khả năng sinhnhiệt kém nên dễ mất nhiệt, giảm thân nhiệt và chết vì lạnh, vì vậy cần phải sưởi ấmcho gà con. Tuần đầu tiên gà con yếu nhất, cần ấm và thoáng khí.Gà con lúc mới nở khả năng điều tiết thân nhiệt cũng chưa hoàn chỉnh, thânnhiệt còn chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Gà con có thân nhiệt thây đổikhi nhiệt độ bên ngoài xuống thấp quá dưới 150c hoặc quá cao trên 380c. Do đó gàcon rất ngạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ của môi trường bên ngoài (Phạm VănHùng, 2004) [4].
Đặc điểm về khả năng miễn dịch Gà con mới nở có thân nhiệt chưa ổn định, thân nhiệt thấp hơn gà trưởng thành(380c), khả năng điều tiết thân nhiệt kém, khả năng miễn dịch cũng kém c 7 nên phảicó biên pháp phồng bệnh cho gà con từ khi mới nở để tăng khả năng miễn dịch.Ngay trong tuần đầu, gà con phải tập làm quen với thức ăn, nước uống và các điềukiện ngoại cảnh rất khác biệt so với môi trường máy ấp nhằm giúp gà hoàn thiệncác chức năng sinh lý để chúng sinh trưởng và phát triển tốt (Lâm Minh Thuận vàcộng sự, 2013)[25]. Đặc điểm tiêu hóa -Tiêu hóa ở miệng Gia cầm tìm thức ăn chủ yếu nhờ vào thị giác và xúc giác, rất ít khi nhờ vàokhứu giác và vị giác.