Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu vực rừng thực nghiệm Núi Luốt thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp (thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội) có tổng diện tích 130 ha. Trước năm 1985, toàn bộ diện tích nơi đây là đất trống đồi núi trọc, thảm thực vật tự nhiên nghèo nàn chủ yếu gồm sim, mua, cỏ tranh và cây bụi nhỏ; đất đai bị thoái hóa nghiêm trọng, khô cằn, chua, chặt bí, nhiều đá lẫn và bị ong hóa ở nhiều vị trí. Trong giai đoạn 1985–1986, Trường Đại học Lâm nghiệp đã triển khai trồng rừng phục hồi và phủ xanh đất trống bằng các loài cây tiên phong mọc nhanh như Thông Mã Vĩ (Pinus massoniana Lamb.), Keo Lá Tràm (Acacia auriculiformis Cunn.) và Bạch đàn.

Đến giai đoạn 1995–1996 và trồng bổ sung giai đoạn 1996–2002, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm và Phát triển Rừng đã tiến hành trồng thử nghiệm các loài cây gỗ bản địa có giá trị cao thu thập từ nhiều vùng sinh thái dưới tán các lâm phần rừng Thông Mã Vĩ và Keo Lá Tràm. Sau gần hai thập kỷ, tầng tán của rừng Thông và Keo đã khép tán hoàn toàn, tiểu hoàn cảnh rừng được hình thành, đất đai từng bước phục hồi độ phì và các loài cây bản địa đạt độ tuổi từ 11 đến 18 năm. Tầng cây cao đã qua một lần tỉa thưa để loại bỏ cây sinh trưởng kém, tuy nhiên ở giai đoạn hiện tại, nhu cầu về ánh sáng và không gian dinh dưỡng của các loài cây bản địa tầng dưới tăng mạnh, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa tầng cây che bóng và tầng cây bản địa.

Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp ngành Lâm học của sinh viên Nguyễn Văn Hưng (năm 2013) thực hiện đề tài nhằm giải quyết các nhiệm vụ:

  • Mục tiêu chung: Góp phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh chuyển hóa rừng trồng thuần loài Thông Mã Vĩ và Keo Lá Tràm thành rừng hỗn loài với các loài cây bản địa, phục vụ nghiên cứu khoa học, học tập và tạo lập cảnh quan hướng tới phát triển rừng bền vững tại khu vực Núi Luốt.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá khả năng sinh trưởng và xác định các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sinh trưởng của 3 loài cây bản địa: Lim Xanh (Erythrophloeum fordii), Re Hương (Cinnamomum iners Reinw.) và Đinh Thối (Fernandoa brilletii) trồng dưới tán rừng Thông Mã Vĩ và Keo Lá Tràm.
    2. Đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào cấu trúc tầng cây cao nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các loài cây bản địa sinh trưởng và phát triển.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Ba loài cây bản địa gồm Lim Xanh (15 tuổi, trồng năm 1998), Re Hương (12 tuổi, trồng năm 2001 và 17 tuổi, trồng năm 1996), Đinh Thối (15 tuổi, trồng năm 1998).
  • Phạm vi không gian: Các ô tiêu chuẩn bố trí tại các vị trí lập địa khác nhau (sườn đỉnh 133 m, sườn đỉnh 90 m, sườn chân 90 m) tại khu vực rừng thực nghiệm Núi Luốt, Trường Đại học Lâm nghiệp.
  • Phạm vi thời gian: Điều tra và thu thập số liệu thực địa vào tháng 4 năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý thuyết lâm sinh học về cấu trúc rừng nhiều tầng tán, động thái phục hồi rừng nhiệt đới và quy luật hỗn giao giữa cây tiên phong mọc nhanh che bóng với cây bản địa chịu bóng giai đoạn non. Nghiên cứu kế thừa các công trình thực nghiệm trồng rừng hỗn loài trong nước và quốc tế (Maurand 1931; Học viện Nông Lâm 1962; Nguyễn Bá Chất 1981–1996; Phùng Ngọc Lan 1986; Phạm Xuân Hoàn 2002; Đỗ Quế Lâm 2003; Lê Minh Cường 2007).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu thực địa được tiến hành bài bản qua các bước:

  1. Phương pháp kế thừa số liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội và số liệu khí tượng thủy văn giai đoạn 2007–2011 từ Trạm Khí tượng Thủy văn Đại học Lâm nghiệp.
  2. Phương pháp điều tra thực địa:
    • Điều tra sơ thám: Sử dụng bản đồ địa hình và địa bàn cầm tay để xác định ranh giới, trạng thái lâm phần và vị trí phân bố tập trung của 3 loài cây bản địa.
    • Lập ô tiêu chuẩn (OTC): Bố trí 12 OTC điển hình tạm thời, diện tích mỗi ô là 1.000 m² ($S_{OTC} = 1.000\text{ m}^2$), tổng diện tích điều tra đạt 12.000 m².
    • Đo đếm chỉ tiêu sinh trưởng cá thể: Đo đường kính thân tại vị trí 1,3 m ($D_{1.3}$) bằng thước kẹp kính chính xác đến mm theo 2 chiều Đông - Tây (Đ-T) và Nam - Bắc (N-B); đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước đo cao Blumeleiss chính xác đến cm; đo đường kính tán lá ($D_t$) bằng thước dây theo 2 chiều Đ-T và N-B.
    • Phân cấp phẩm chất cây: Chia thành 3 cấp: Cây tốt (T - thân thẳng, không cụt ngọn, tán cân đối, không sâu bệnh), Cây trung bình (TB - sinh trưởng bình thường, không cong queo sâu bệnh), Cây xấu (X - cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn, tán lệch).
    • Đo độ tàn che tầng cây cao: Phương pháp cho điểm trên tuyến điều tra bằng ống ngắm giấy đường kính 3 cm tại 100 điểm/OTC (tán che $>50%$ tính 1 điểm, $<50%$ tính 0,5 điểm, không che tính 0 điểm).
    • Điều tra cây bụi thảm tươi: Lập 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 20 m²/ô tại 4 góc và 1 tâm của mỗi OTC (chiếm 10% diện tích OTC) để xác định loài ưu thế, độ che phủ (%) và chiều cao trung bình ($H_{tb}$).
    • Điều tra đất đai: Đào và mô tả phẫu diện đất điển hình ($1,2\text{ m} \times 0,8\text{ m} \times 1,2\text{ m}$) tại mỗi trạng thái lâm phần theo từng tầng phát sinh (A, B, BC, C).
  3. Phương pháp xử lý số liệu: Ứng dụng thống kê toán học trong lâm nghiệp:
    • Phân tổ dữ liệu: Số tổ $m = 5 \cdot \log(n)$; cự ly tổ $K = (X_{max} - X_{min})/m$.
    • Tính toán các tham số đặc trưng mẫu: Trung bình mẫu ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến động ($S% = (S/\bar{X}) \times 100$), lượng tăng trưởng bình quân hàng năm ($\Delta D_{1.3}, \Delta H_{vn}, \Delta D_t$).
    • Kiểm định sai dị giữa hai giá trị trung bình mẫu theo tiêu chuẩn $U$ ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ (ngưỡng phân định $|U| = 1,96$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng thuật toàn diện các nghiên cứu về rừng trồng hỗn loài và kỹ thuật gây trồng cây bản địa dưới tán rừng lá kim, lá rộng:

  • Trên thế giới: Tổng quan các mô hình chuyển hóa và trồng xen tại Đài Loan, Nhật Bản (Tsukuba), Bờ Biển Ngà (với diện tích hơn 14.000 ha rừng hỗn loài từ năm 1930) và dự án rừng nhiều tầng tại Malaysia (1999) thử nghiệm 14 loài bản địa dưới tán Keo tai tượng (Acacia mangium) theo các công thức mở băng 10 m, 20 m, 40 m.
  • Tại Việt Nam: Phân tích các mô hình lịch sử từ nghiên cứu của Maurand (1931) tại Trảng Bom với cây Sao đen, Dầu rái; các thí nghiệm hỗn giao Mỡ với Lim xanh, Xà cừ, Tếch của Học viện Nông Lâm (1962); nghiên cứu của Nguyễn Bá Chất, Hoàng Văn Thắng, Phạm Xuân Hoàn (2002) tại Cát Bà; nghiên cứu của Phùng Ngọc Lan (1986), Đỗ Quế Lâm (2003) tại Núi Luốt và Lê Minh Cường (2007) tại Đại Lải. Chương I chỉ ra khoảng trống: các nghiên cứu trước chưa đưa ra giải pháp cụ thể về việc điều chỉnh độ tàn che tầng cây cao theo từng lập địa cụ thể nhằm xúc tiến sinh trưởng cho cây bản địa ở giai đoạn tuổi 11–18.

Chương II: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết hệ thống mục tiêu, nội dung nghiên cứu 3 phần (cấu trúc nền rừng, sinh trưởng cây bản địa, giải pháp kỹ thuật) và thiết kế phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm, công thức toán thống kê phân tích số liệu điều tra tại 12 OTC tạm thời.

Chương III: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

Mô tả chi tiết các yếu tố hoàn cảnh tại khu vực thực nghiệm Núi Luốt:

  • Vị trí và địa hình: Tọa độ 20°50'30"B, 105°30'45"Đ. Địa hình gồm 2 đồi nối tiếp với đỉnh cao 133 m và đỉnh phụ 90 m, độ dốc trung bình 15°.
  • Khí hậu thủy văn (2007–2011): Nhiệt độ trung bình năm đạt 23,6°C (tháng nóng nhất 28,5°C vào tháng 6, tháng lạnh nhất 17,1°C vào tháng 1); lượng mưa bình quân năm đạt 1.664,5 mm (tập trung từ tháng 4 đến tháng 10); độ ẩm không khí trung bình 81,7%.
  • Địa chất thổ nhưỡng: Đất Feralit màu nâu vàng phát triển trên nền đá mẹ Poocfiarit (chứa $Al_2O_3, FeO, MgO, CaO, SiO_2$), tầng đất trung bình đến dày, xói mòn mặt nhẹ đến trung bình, hàm lượng mùn từ 2–4%, tầng B dày 10–110 cm có tỷ lệ sét 25–26%.
  • Kinh tế - xã hội: Áp lực từ hoạt động dân sinh vùng ven thị trấn Xuân Mai và xã Hòa Sơn (Lương Sơn, Hòa Bình) như việc người dân tự ý vào rừng lấy củi, chăn thả trâu bò gây ảnh hưởng đến lớp cây tái sinh và cây bụi thảm tươi.

Chương IV: Kết quả nghiên cứu

Nội dung chương trình bày dữ liệu đo đạc thực tế từ 12 OTC:

  1. Đặc điểm cấu trúc nền rừng:
    • Lâm phần tầng cây cao 28 tuổi (trồng năm 1985): Rừng Thông Mã Vĩ có mật độ để lại 240–500 cây/ha, độ tàn che dao động từ 0,67 đến 0,82; rừng Keo Lá Tràm có mật độ 160–430 cây/ha, độ tàn che từ 0,59 đến 0,725.
    • Thảm tươi cây bụi: Dưới tán Thông, thảm tươi cao 11,0–32,4 cm, độ che phủ biến động 4,2–52,0%; dưới tán Keo, thảm tươi cao 10,4–32,4 cm, độ che phủ biến động 8,0–37,4% (thành phần gồm dương xỉ, lau, cỏ xước, ké hôi, mâm xôi, ráy). Thảm tươi không cạnh tranh ánh sáng gay gắt với cây bản địa nhưng giữ ẩm tốt cho đất mặt.
    • Đất đai: Đất dưới rừng Thông chua với pH từ 4,0–4,7; đất dưới rừng Keo tơi xốp hơn nhờ rễ nốt sần cố định đạm nhưng độ phì dễ tiêu còn nghèo.
  2. Sinh trưởng và chất lượng cây bản địa dưới tán rừng: Phân tích chi tiết các chỉ tiêu $D_{1.3}, H_{vn}, D_t$, các tham số biến động và kiểm định sai dị theo vị trí sườn đỉnh và sườn chân.
  3. Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Điều chỉnh mật độ và tỉa thưa tán che tầng cây cao phù hợp với đặc tính sinh thái của từng loài bản địa.

Kết quả và đóng góp

1. Tổng hợp số liệu sinh trưởng của các loài cây bản địa

Số liệu điều tra thực tế tại các OTC dưới tán rừng Thông Mã Vĩ và Keo Lá Tràm được tổng hợp chi tiết qua các bảng dưới đây:

Loài cây Tuổi cây Tán che rừng Vị trí địa hình $D_{1.3}$ trung bình (cm) Tăng trưởng $\Delta D_{1.3}$ (cm/năm) $H_{vn}$ trung bình (m) Tăng trưởng $\Delta H_{vn}$ (m/năm) $D_t$ trung bình (m) Tăng trưởng $\Delta D_t$ (m/năm)
Lim Xanh 15 Thông Mã Vĩ Sườn đỉnh 133 13,15 0,88 14,87 0,99 5,13 0,34
Lim Xanh 15 Thông Mã Vĩ Sườn chân 90 13,11 0,87 11,94 0,80 5,18 0,35
Lim Xanh 15 Keo Lá Tràm Sườn chân 90 / Đỉnh 133 14,23–15,17 0,95–1,01 14,73–15,25 0,98–1,02 5,41–5,51 0,36–0,37
Re Hương 12 Thông Mã Vĩ Sườn đỉnh 133 15,68 1,31 16,70 1,39 6,42 0,54
Re Hương 17 Thông Mã Vĩ Sườn chân 90 22,21 1,31 18,50 1,09 6,00 0,35
Re Hương 12 Keo Lá Tràm Sườn đỉnh 133 20,23 1,69 11,19 0,66 6,38 0,53
Re Hương 17 Keo Lá Tràm Sườn chân 90 15,45 0,91 17,01 1,42 5,61 0,33
Đinh Thối 15 Thông Mã Vĩ Sườn đỉnh 90 19,06 1,27 17,66 1,18 4,09 0,27
Đinh Thối 15 Thông Mã Vĩ Sườn chân 90 17,36 1,16 17,18 1,15 4,05 0,27
Đinh Thối 15 Keo Lá Tràm Đỉnh 133 / Chân 90 15,90–19,70 1,06–1,31 13,97–18,84 0,93–1,26 4,31–5,16 0,29–0,34

2. Đánh giá chất lượng và phân cấp phẩm chất cây

Cơ cấu phẩm chất cây trồng bản địa thể hiện rõ sự thích ứng của từng loài với tiểu hoàn cảnh dưới tán rừng:

Loài cây Tán che rừng Tỷ lệ cây Tốt (%) Tỷ lệ cây Trung bình (%) Tỷ lệ cây Xấu (%)
Lim Xanh Thông Mã Vĩ 48,39 – 60,61 18,18 – 25,81 21,21 – 25,81
Lim Xanh Keo Lá Tràm 57,14 – 63,33 13,33 – 14,29 23,33 – 28,57
Re Hương Thông Mã Vĩ 68,30 – 75,00 12,50 – 19,51 12,19 – 12,50
Re Hương Keo Lá Tràm 50,00 – 71,88 18,75 – 20,00 9,37 – 30,00
Đinh Thối Thông Mã Vĩ 72,97 – 73,81 7,14 – 10,81 16,21 – 19,05
Đinh Thối Keo Lá Tràm 51,61 – 76,67 10,00 – 12,90 13,33 – 35,48

3. Đóng góp và đề xuất biện pháp kỹ thuật của tác giả

  • Đánh giá tổng quát: Khả năng sinh trưởng tổng hợp về đường kính và chiều cao dưới tán rừng Thông Mã Vĩ xếp theo thứ tự giảm dần: Re Hương > Đinh Thối > Lim Xanh. Dưới tán Keo Lá Tràm, các loài bản địa có tốc độ tăng trưởng đường kính nhỉnh hơn nhờ độ phì của đất được cải thiện tốt hơn.
  • Biện pháp kỹ thuật lâm sinh đề xuất:
    • Đối với Lim Xanh và Đinh Thối: Do có khả năng chịu bóng tốt hơn và đang phát triển ổn định, chỉ cần tiến hành tỉa cành nhánh sâu bệnh hoặc chặt tỉa các cành tầng trên đè vướng vào tán cây bản địa nhằm giải phóng không gian sinh dưỡng trực tiếp.
    • Đối với Re Hương: Ở giai đoạn tuổi 12–17, nhu cầu ánh sáng của loài tăng mạnh. Tác giả đề xuất cần chủ động điều chỉnh, hạ độ tàn che của tầng cây cao (Thông Mã Vĩ và Keo Lá Tràm) xuống khoảng 0,10–0,20 đối với các ô tiêu chuẩn có tỷ lệ cây sinh trưởng trung bình và xấu cao để kích thích tăng trưởng chiều cao và tán lá.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thẳng thắn chỉ ra các điểm tồn tại khách quan trong quá trình nghiên cứu tại thực địa:

  • Phạm vi nghiên cứu: Do giới hạn thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, nghiên cứu chưa mở rộng điều tra trên các dạng lập địa khác nhau ngoài khu vực Núi Luốt để so sánh mức độ thích ứng rộng hơn của các loài bản địa.
  • Hạn chế về mô hình ban đầu: Cây bản địa trồng dưới tán rừng trong các giai đoạn trước không theo một mô hình thử nghiệm cố định (mật độ trồng, cự ly hàng và cây không đồng nhất, phương thức bố trí ngẫu nhiên theo đám), do đó khóa luận không thể tính toán chính xác tỷ lệ sống/chết lũy kế từ lúc trồng ban đầu.
  • Giới hạn chu kỳ sống: Các loài cây gỗ bản địa nghiên cứu là cây thân gỗ lớn có chu kỳ kinh doanh dài, trong khi rừng trồng tại thời điểm nghiên cứu mới ở giai đoạn rừng non (11–18 tuổi), chưa phản ánh toàn bộ quy luật sinh trưởng suốt chu kỳ sống.
  • Yếu tố tác động ngoại cảnh: Công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu thực nghiệm chưa triệt để, hiện tượng người dân vào chặt củi và chăn thả gia súc làm gãy ngọn cây bản địa ảnh hưởng nhất định đến tính khách quan của việc phân cấp phẩm chất cây.

Hướng nghiên cứu tiếp theo do tác giả đề xuất:

  • Tiếp tục theo dõi sinh trưởng và diễn thế lâm phần của 3 loài cây bản địa ở các cấp tuổi tiếp theo (giai đoạn thành rừng và khép tán hoàn toàn tầng dưới).
  • Mở rộng phạm vi thử nghiệm trên nhiều vùng sinh thái và các kiểu rừng che bóng khác để nâng cao độ tin cậy.
  • Xây dựng quy trình điều tiết độ tàn che động học theo từng giai đoạn sinh trưởng của từng loài.
  • Tăng cường các giải pháp quản lý bảo vệ rừng thực nghiệm, ngăn chặn triệt để tình trạng chăn thả gia súc và xâm hại thảm tươi.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Sinh viên, học viên ngành Lâm học, Quản lý Tài nguyên Rừng và Lâm sinh: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra lâm phần, phương pháp đo đếm và xử lý số liệu sinh trưởng rừng bằng thống kê toán học (kiểm định sai dị $U$, phân tổ, tính toán lượng tăng trưởng bình quân).
  • Cán bộ kỹ thuật và quản lý lâm nghiệp tại các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng: Cung cấp dữ liệu thực tế về khả năng sinh trưởng của Lim Xanh, Re Hương, Đinh Thối khi trồng chuyển hóa dưới tán Thông và Keo trên đất Feralit thoái hóa vùng đồi núi thấp phía Bắc.
  • Các nghiên cứu về phục hồi rừng tự nhiên: Minh chứng thực nghiệm cho thấy việc sử dụng cây tiên phong che bóng (Keo Lá Tràm, Thông Mã Vĩ) sau đó làm giàu bằng cây gỗ bản địa là hướng đi hiệu quả để rút ngắn quá trình phục hồi thảm thực vật bản địa bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài khảo sát sinh trưởng của những loài cây bản địa nào và tại các cấp tuổi bao nhiêu? Đề tài nghiên cứu 3 loài cây bản địa gồm: Lim Xanh (Erythrophloeum fordii) 15 tuổi (trồng năm 1998), Re Hương (Cinnamomum iners) ở hai cấp tuổi 12 tuổi (trồng năm 2001) và 17 tuổi (trồng năm 1996), Đinh Thối (Fernandoa brilletii) 15 tuổi (trồng năm 1998).

2. Đặc điểm mật độ và độ tàn che của tầng cây cao che bóng tại khu vực Núi Luốt là gì? Tầng cây cao được trồng từ năm 1985 (28 tuổi tại thời điểm nghiên cứu năm 2013). Rừng Thông Mã Vĩ có mật độ 240–500 cây/ha với độ tàn che từ 0,67 đến 0,82. Rừng Keo Lá Tràm có mật độ 160–430 cây/ha với độ tàn che từ 0,59 đến 0,725.

3. Thứ tự khả năng sinh trưởng của các loài cây bản địa dưới tán rừng Thông Mã Vĩ diễn ra như thế nào? Qua phân tích số liệu thực nghiệm, sinh trưởng tổng hợp về đường kính ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và đường kính tán lá ($D_t$) của các loài cây dưới tán rừng Thông Mã Vĩ đạt cao nhất ở Re Hương, tiếp theo là Đinh Thối và thấp nhất là Lim Xanh.

4. Tác giả sử dụng kỹ thuật gì để đo độ tàn che của tầng cây cao trong các ô tiêu chuẩn? Tác giả sử dụng phương pháp cho điểm trên tuyến điều tra bằng một ống giấy cuộn tròn đường kính cố định 3 cm. Tại mỗi ô tiêu chuẩn, thiết lập 100 điểm quan sát thẳng đứng lên tán cây: nếu tán chiếm $>50%$ tiết diện ống giấy tính 1 điểm, chiếm $<50%$ tính 0,5 điểm, không thấy tán cây tính 0 điểm; tổng số điểm chia cho 100 cho ra tỷ lệ độ tàn che.

5. Giải pháp lâm sinh cụ thể nào được đề xuất cho loài Re Hương so với Lim Xanh và Đinh Thối? Đối với Lim Xanh và Đinh Thối, chỉ cần tỉa cành sâu bệnh và cành tầng cao chèn lấn trực tiếp. Riêng đối với Re Hương (giai đoạn 12–17 tuổi có nhu cầu ánh sáng tăng cao), tác giả đề xuất cần chủ động tỉa thưa tầng cây cao che bóng để hạ độ tàn che xuống khoảng 0,10–0,20 ở những nơi cây có phẩm chất trung bình và xấu nhằm tạo không gian ánh sáng thuận lợi.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Hưng đã đánh giá toàn diện khả năng sinh trưởng và chất lượng của 3 loài cây bản địa Lim Xanh, Re Hương và Đinh Thối sau 12 đến 17 năm gây trồng dưới tán rừng Thông Mã Vĩ và Keo Lá Tràm tại Núi Luốt. Kết quả thực nghiệm khẳng định cả 3 loài cây đều có khả năng sinh trưởng và thích nghi tốt trên nền đất Feralit thoái hóa được cải tạo bởi tầng cây tiên phong, trong đó Re Hương và Đinh Thối thể hiện ưu thế vượt trội về tăng trưởng sinh khối. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tế quan trọng phục vụ công tác thiết kế các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm chuyển hóa hiệu quả rừng trồng thuần loài thành rừng hỗn loài bản địa nhiều tầng tán đa dạng và bền vững.