CHƯƠNG I TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Trên thế giới Trong những năm gần đây, nhiều nơi trên thế giới đã và đang nghiên cứu trồng rừng thành công bằng những loài cây bản địa. Một số nước trên thế giới, đã có những nghiên cứu trồng cây bản địa đưới tán rừng cây lá kim hoặc cây lá rộng thuần loài. Từ đó đưa ra những kết luận về khả năng sinh trưởng cũng như giá trị kinh tế của những loài cây rừng.
Tại Đài Loan và một số nước châu Á, sau khi trồng phủ xanh đất trống đổi núi trọc bằng cây lá kim đã tiến hành gây trồng cây bản địa dưới tán rừng này. Kết quả đã tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng suất cao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ chống xói mòn đất [4]. Tại Malayxia (1999), trong dự án xây đựng rừng nhiều tầng đã giới thiệu cách thiết lập mô hình rừng hỗn loài trên 3 đối tượng: Rừng tự nhiên, rừng trồng Keo tai tượng (4cacia mangium) 10 ¬:15 tuổi và 2 - 3 tuổi. Dự án đã sử dụng 23 loài cây bản địa có giá trị, trồng theo băng 30 m trong rừng tự nhiên, mỗi băng trồng 6 hàng cây bản địa.
Với 14 loài cây bản địa dưới tán rừng Keo tai tượng theo 2 Khối thí nghiệm: Khối A: -. Mở băng 10m trồng 3 hàng cây bản địa; Mở băng 20m trồng 7 hàng cây bản địa; Mở băng 40m trồng 15 hàng cây bản địa; Khéi B: Chặt.1 hàng Keo trồng 1 hàng cây bản địa; ‘Chat 2 hàng Keo trồng 2 hàng cây bản địa; Chit 4 hang Keo trồng 4 hàng cây bản địa. cho thấy trong 14 loài cây trồng thuộc khối A có 3 v Shorea ovalis; Shorea leprosula; sinh trưởng chiều t. Tỷ lệ sống không khác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng tốt nhật ö găng 10 m và băng 40 m.
Băng 20 m không thỏa mãn điều kiện sinh trưởng về chiều cao. Khối B có tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao tốt khi trồng 1 hàng, sinh trưởng đường kính tốt cho công thức trồng 6 2 hàng và trồng 16 hàng. Dự án còn vạch ra kế hoạch điều chỉnh các công thức trồng tại thời điểm 2, 8, 12, 18, 28, 34, 41, 47 năm sau khi trồng [4]. Trong phần lớn các trường hợp, sự kết hợp các loài cây bản địa này gồm các loài cây cho gỗ lớn và loài cây cung cấp gỗ nhỏ làm nguyên liệu.
Khoảng 14 nghìn ha rừng hỗn loài đã được trồng ở Cote d°voire từ năm 1930. Trồng rừng dưới tán theo đám hoặc theo băng với cự l¡ cách đều đã tạo rả các lâm phần hỗn loài khác nhau trong tự nhiên sau khai thác. Theo righién cứu tai Cote d’lvoire, phương thức trồng rừng dưới tán này được thiết lập với các loài cây gỗ như: Heriera wfilis, Khaya invorensis, Terminalia invorensis, Aucoumea klaineana, Entandrophagma spp, Lovoa trichlioides, Lophira alata, Guarea cedrata, Entandrophagma angolense.d6 vao nhimg nam 1960 việc trồng rừng đã được phát triển và mở rộng; nhiều loài cây khác đã được sử dụng vào trồng rừng hỗn loài nhu: Entandrophagma cylindricum, Terminalia superb, Triplochiton, Thieghnmella heckelli, Afzelia spp, Nauclea diderrichii, Mitragyna ciliata, “Pycnanthus -angolensis, Cedrela odorata, Tectona grandis, Gmelina arborea, Acacia mangium, Acacia auriculiformis, Cassia siamea var Eucallyptus. Mot số nước trên thế giới đã có nghiên cứu trồng cây bản địa dưới tán rừng cây lá kim hoặc cây lá rộng thuần loài và có những kết luận về khả năúg sinh trưởng cũng như giá trị kinh tế của những loài cây này.
Tai Kasma Forest Technology Center (Nhat Ban) [23] đã thiét lap hang loạt các mô hình rừng nhiều tầng tán bao gồm nhiều loài cây và ở nhiều cấp tuổi, trồng 1 iều độ cao khác nhau. Đặc biệt ở vùng Tsucuba có độ cao dưới được trông tr‹ p Tai Đài Loan và một số nước châu Á, sau khi đã trồng phủ xanh đất trống đồi núi trọc bằng cây lá kim đã tiến hành gây trồng cây bản địa dưới tán 3 rừng này. Kết quả đã tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng suất cao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ chống xói mòn đất, hạn chế dịch bệnh và lửa rừng. Qua những nghiên cứu trên cho thấy cây bản địa đã được rất nhiều tác giả quan tâm.
Nhiều loài cây có giá trị kinh tế cao như: Tếch, Liễu sam,‹. đã được chọn để phục vụ trồng rừng. Các phương thức và kỹ thuật trồng cây bản địa được áp dụng làtrồng theo băng hoặc theo đám, các nghiên cứu ne su anh hưởng lẫn nhau khi trồng hỗn giao. Tuy nhiên các nghiên cứu.trên chưa đề cập đến độ tan che tầng cây cao ảnh hưởng đến sinh trưởng các cây ban dia trồng dưới tán, chưa nghiên cứu được biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây bản địa ở các lập địa cụ thể.
Chính vì thế, việc nghiên cứu độ tàn che tầng cây cao đến sinh trưởng của cây bản địa trồng,đưới tán, biện pháp kỹ thuật gây trồng một số loài cây bản địa là cần thiết, đặc biệt đối với các loài cây bản địa ở Việt Nam. Nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài Trồng rừng hỗn loài ở Việt Nam đã-được nghiên cứu từ năm 1931. Điền hình là công trình nghiên cứu của tác giả người Pháp tên là Maurand tại Trảng Bom - Đồng Nai về thử nghiệm gây trồng rừng hỗn loài Sao den (Hopera odorata Roxb), Daw déi (Dipterocarpus alatus Roxb), va Vén vén (Anisoptera costata Korth) trong rạch hẹp 1 - 2 m, sau đó mở rộng 5 m. Cây bụi thảm tươi được phát dọn nhưng vẫn giữ lại che bóng ở tầng trên.
Ông đã gọi a la Blue thức “eee rừng dưới tán che=> và gi Sau 2 Bông thí gring đưới tán che cao và nhẹ”. Nhưng thí nghiệm này của ông đê © 3 lai nay sinh vấn đề là cây trong rach sinh trưởng kém. Ông lại tiếp tục: Sdùng thảm che nhân tạo với các loài cây họ đậu như Muồng đen (Cassi siamea), Dau tram (Indigofora teysmanii) va 6ng cho rằng việc dùng cây che phủ ban đầu kết hợp với cây che phủ trung gian là có hiệu quả. Tác giả còn kết luận nhân tố ánh sáng trong rạch chừa đã ảnh hưởng tới cây trồng chính [6].
Năm 1962, các nhà lâm học Học viện Nông lâm đã tiến hành thí nghiệm trồng rừng hỗn loài, lấy cây Mỡ (Manglietia glaucá Wull.BL) làm đối tượng chính của rừng hỗn loài và dùng loài cây bạn theo từng cặp: Mỡ+ Lim xanh (Ery(horophloeum ƒordii), Mỡ + Xà cù (Khây senegalensis Benth), Mỡ + Tếch (7ecfona grandis Linn). Mỗi loài cây một hàng, hàng cách hàng 2 m, cây cách cây 2 m, kết quả cho thấy: Xà cừ, Tếch không thích-hợp với đất và kỹ thuật trồng chưa đúng nên 2 loài cây này có tốc độ sinh trưởng chậm và bị các cây khác cạnh tranh, cuối cùng còn Mỡ thuần loài: Đối với Lim xanh, 2 năm đầu sinh trưởng kém, nhưng giai.đöạn tiếp theo Lim xanh phát triển chiều cao nhanh hơn, do đó đến tuổi 10 - 12 Lim xánh đã vươn lên cùng tầng Mỡ. Trần Nguyên Giảng đã nhận xét: Lửn xanh có khả năng trồng hỗn loài với Mỡ nhưng chưa tìm ra được tỷ lệ thích hợp. Xét về mặt cải thiện đất, cây Lim xanh có thể đáp ứng song Xà cừ và Tếch tác dụng không rõ [6].
Năm 1971 - 1976, Nguyễn Bá Chất và các cộng sự đã sử dụng phù hợp một số loài cây có khả năng cố định đạm như: Cốt khí, Ràng ràng mít, Lim xẹt để tiến hành thí nghiệm trồng rừng hỗn loài Bồ đề với Mỡ và Xoan đào ở Tuyên Quang và Phú Thọ. Thí nghiệm trồng theo băng và theo hàng, kết quả sau 5 năm cho thấy năng suất của rừng Bồ đề trồng hỗn loài có cây phụ trợ tăng 15 - 20% so với rừng Bồ đề trồng thuần loài. Lượng thảm mục dưới tán ài được cải thiện hơn so với rừng trồng thuần loài [6]. trở lại ae việc phục hồi rừng bằng các cây bản địa lá tác giả quan tâm nghiên cứu.
Nỗi bật là công trình nghiên (Sông Hiếu thông qua việc xây dựng cấu trúc hôn loài Lát hoa với oii cây khác của Nguyễn Bá Chất (1981 - 1985). Tác giả trồng hỗn loài Lát fica với một số cây lá rộng bản địa như: Lim xet, Giỗi xanh, Thôi chanh, Lõi thọ, Ràng ràng nhằm tạo được một cấu trúc rừng hợp 5 lý. Mô hình này được theo dõi đến năm thứ 10 và cho thấy: Sinh trưởng rừng Lát hoa trồng hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa trồng thuần loài [6]. Năm 1985 - 1990, Nguyễn Xuân Quát đã tiến hành trồng thử nghiệm Tếch kết hợp với Đậu tràm và Muồng đen ở Tây Nguyên.
Từ kết quả nghiên cứu tác giả nhận xét: “Bước đầu cho thấy chưa rõ hiệu qua sinh trưởng của Tếch là tốt hơn hoặc xấu hơn, nhưng đã tạo được cấu trúc rừng kết hợp giữa cây rụng lá mùa khô, cây phù trợ là cây Đậu tràm và cây bạn Muông đen thường xan?? [6]. : Nguyễn Bá Chất 1996 đã nhận thấy việc chọn loài cây phối hợp với Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) dang còn khoảng trồng cơ Sở lý luận và thực tiễn. Thí nghiệm trồng hỗn giao Lát hoa với các loài Trai (Garcinia ƒagraeo ides A.6 tudi 5 chưa thấy có ảnh hưởng đến sinh trưởng của Lát hoa [3]. Đánh giá kết quả trồng rừng cây bản địa lá rộng ở Trung Trung Bộ, Lại Hữu Hoàn (2004) nhận thấy ‘Tram trắng được trồng theo phương thức hỗn giao có tỷ lệ sống cao đạt 80% tăng trưởng chiều cao 1,25 m/năm và đường kính 1,3 cm/năm.
Nguyễn Minh Đức (1998), nghiên cứu sinh trưởng loài Lim xanh tại vườn quốc gia Bến.En - Thanh Hóa đã nhận xét: Sự thay đổi cường độ ánh sáng dẫn tới sự tHay đổi nhiệt độ từ đó làm thay đổi độ ẩm dưới tán rừng và điều này có ảnh hưởng đến Sinh trưởng của cây rừng đặc biệt là lớp cây tái àng Văn Thắng 2007). phòng hông qua các phương thức hôn loài khác nhau như Hỗn loài giữa at ` cây bụi, hỗn loài giữa cây cao với cây cao. Căn cứ trên công trình nghiền cứu các quy luật chủ yếu của rừng tự nhiên miền Bắc - Việt Nam tác giả đã chỉ ra rằng: Thảm thực vật ở nước ta đều phân thành 6 nhiễu tang , từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chưa kế tẳng cây nhỡ và thảm tươi. Dựa trên quy luật đó tác giả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp ứng mục tiêu phòng hộ đầu nguồn cho vùng xung yếu, trong đó có 2 mộ hình hỗn loài nổi bật là mô hình rừng sản xuất khí hậu vĩnh viễn nhiều tầng và rừng sản xuất thứ sinh tạm thời nhiều tầng.
Khi đánh giá một số mô hình trồng rừng hỗn giao ở các tỉnh phía Bắc.