MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Biến đổi khí hậu (BĐKH) trên phạm vi toàn cầu đã làm cho thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng về số lượng, cường độ và mức độ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế xã hội. BĐKH đang được xem là vấn đề nóng bỏng nhất — yếu t6 quan trọng, có tác động toàn diện đến sự phát triển bền vững trên toàn thé giới. Biến đối khí hậu được coi là có tác động mạnh mẽ nhất đối với hệ thống công trình thủy loi.
Ở Việt Nam, tình trạng thiếu nước, hạn hán vào mùa kiệt xảy ra thường xuyên và ở cấp độ tương đối nghiêm trọng trong thời gian gần đây. Nhìn chung các công trình thủy lợi ở nước ta nói chung và ở tỉnh Nam Định nói riêng đã được đầu tư từ rất sớm, từ những năm 1960 đến nay hệ thống các công trình thuỷ lợi đã từng bước được đầu tư xây dựng như các trạm bơm lớn, kênh mương, cống dưới đê, hệ thống đê điều .Tuy nhiên do một số chỉ tiêu thiết kế đến nay không còn phù hợp, hệ thong công trình bị xuống cấp nên không đảm bảo đáp ứng yêu cẩu tưới tiêu. Nguyên nhân là do trong những năm gân đây, diễn biến thời tiết khí tượng thủy văn có xu hướng ngày càng bat lợi, thiên tai xảy ra ngày càng khắc nghiệt, dẫn đến việc phá hủy hệ thống, thay đối yêu cầu phục vụ tưới tiêu của các công trình thủy lợi. Mặt khác, trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế xã hội đã làm cho các hệ thống công trình thủy lợi bị xâm hại, vùng tưới bị xâm chiếm, nhiều hệ thống thủy lợi bị thay đổi mục tiêu nhiệm vụ và giảm sự chi phối.
Đồng thời quá trình phát triển kinh tế xã hội cũng là nguyên nhân chủ yêu gây ô nhiễm môi trường, nguôn nước trong các hệ thống công trình thủy lợi. Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi tao ra những nhiệm vụ và yêu cau mới đối với các công trình thủy lợi. Một số công trình được xây dựng trong điều kiện nền kinh tế còn khó khăn, nguồn vốn hạn hẹp, suất đầu tư thấp, còn dan trải nên thường áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế ứng với mức đảm bảo của hệ thống công trình thủy lợi thấp, dẫn đến nhiệm vụ công trình được giao lớn hon năng lực công trình có thé đảm nhiệm. Nhiều hệ thống được đầu tư chưa đồng bộ, chủ yếu tập trung xây dựng phần đầu mối, chưa chú trọng đầu tư hoàn chỉnh, khép kín hệ thống kênh mương dẫn nước và hệ thống thủy lợi nội đồng.
Năng lực của hệ thống thủy nông vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất, tỷ lệ thất thoát nước tưới vẫn còn cao do phần lớn các công trình được xây dựng từ lâu, nay đã xuống cấp nhưng chưa được thay thé, sửa chữa kịp thời, một sé công trình do khó khăn về vốn, đầu tư thiếu đồng bộ, việc quản lý khai thác còn nhiều hạn chế, trong thời gian tới, khi nền kinh tế Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hiền - CH20Q11 phát triển, các khu đô thị mới được xây dựng nhiều, cơ sở hạ tầng nông thôn cũng phát triển, giao thông phát triển thì việc xem xét ảnh hưởng đến vấn đề tiêu thoát nước trong hệ thống cần được xét đến. Hiện nay, có rất ít nghiên cứu chi tiết về tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến khả năng lấy nước của các công trình thủy lợi nước ta nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng. Chính vì vậy, đề tài : “Nghiên cứu đánh giá khả năng lấy nước của các công trình chính của hệ thống thủy lợi tỉnh Nam Định trong điều kiện Biến đổi khí hậu và Nước bién dâng”sẽ tập trung giải quyết được một phần các van đề nêu trên. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của BDKH va Nước biển dâng tới khả năng lấy nước của các công trình chính trên hệ thống thủy lợi có ý nghĩa rất lớn đối với tỉnh Nam Định.
Với kết quả của đề tài, chúng ta sẽ có biện pháp, kế hoạch cụ thể cho ngành sản xuất nông nghiệp, chủ động trước những ảnh hưởng của BĐKH hiện nay cũng như các kịch bản BĐKH trong tương lai. Mục đích của đề tài Đánh giá khả năng lấy nước của các công trình chính trên hệ thống thủy lợi tinh Nam Dinh trong điều kiện Biến đổi khí hậu và Nước biển dang. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu * Cách tiếp cận: 1. Tiếp cận theo mục tiêu : 2.
Tiếp cận theo quy hoạch, kế hoạch phát triển thủy lợi: 3. Cách tiếp cận tông hợp: 4. Tiếp cận hệ thống, liên ngành: * Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp điều tra phân tích tổng hợp; phương pháp thống kê - Phương pháp mô hình thuỷ luc MIKE 11 - Phương pháp kế thừa 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiễn hành trên phạm vi khu vực tinh Nam Định - Đối tượng nghiên cứu: Khả năng lẫy nước của hệ thống thủy lợi Xuân Thủy Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hiền - CH20Q11 CHUONG I: BIEN DOI KHÍ HẬU VÀ TAC ĐỘNG CUA BIEN DOI KHÍ HAU DEN TINH NAM DINH 1.
Tổng quan về Biến déi khí hậu 1. Khái niệm và nguyên nhân biễn doi khí hậu Biến đổi khí hậu: là sự biến đôi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể là đo các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyền hay trong khai thác sử dụng đất. Biến đổi khí hậu: là sự biến đối của trạng thái khí hậu do các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của con người gây ra sự thay đổi thành phan của khí quyên toàn cầu và nó được thêm vào sự biến đổi khí hậu tự nhiên quan sát được trong các thời kỳ có thê so sánh được.
Biến đổi khí hậu: đề cập đến sự thay đôi về trạng thái của khí hậu mà có thể xác định được (ví dụ như sử dụng các phương pháp thống kê) diễn ra trong một thời kỳ dài, thường là một thập kỷ hoặc lâu hơn. Biến đổi khí hậu đề cập đến bat cứ biến đổi nào theo thời gian, có hay không theo sự biến đổi của tự nhiên do hệ quả các hoạt động của con người. Có thé nói răng, biến đổi khí hậu được xem là tất yếu khách quan, nó thé hiện sự vận động của trái đất. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng cho thấy có hai nguyên nhân chính gia tăng biến đổi khí hậu.
Th nhất, đó là nguyên nhân tự nhiên như: do sự đao động của các nhân tố liên quan đến quỹ đạo chuyên động của trái đất, sự thay đôi của bề mặt trái đất, hàm lượng khí CO; trong khí quyền, hoạt động của núi lửa, lượng mây, những thay đổi bên trong vỏ trái đất và độ mặn của đại dương. Thi hai, đó là do các hoạt động của con người đã làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyền, tạo ra một lượng bức xạ cưỡng bức (tăng thêm) là 2,3w/m’, làm cho bề mặt trái đất và lớp khí quyền tầng thấp nóng lên, mực nước biển trung bình toàn cầu tăng. BĐKH trong thời gian thế kỷ XX đến nay được gây ra chủ yếu do con người, do vậy thuật ngữ BDKH (hoặc còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu-global warming) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đại. Luận văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hiền - CH20Q11 1.
Thực trạng biến đỗi khí hậu. Báo cáo đánh giá lẫn thứ 4 của IPCC (2007) đã phản ánh sự đồng thuận rộng rãi về mặt khoa học khi cho rằng biển đổi khí hậu là có thật và do con người gây ra. "Nhiệt độ trung bình toàn cầu đã trở thành thước đo phổ biến về thực trang khí hậu toàn cầu. Trong khoảng 100 năm qua (giai đoạn 1906-2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,70C (1,30F).
Theo IPCC(2007), sự ấm lên của khí hậu là điều chắc chắn. Hm lượng khí CO2, loại khí nhà kính quan trong nhất trong bầu khí quyển toàn cầu, dao động ở mức 200-300 ppm trong suốt 800.000 năm qua, nhưng đã tăng lên ở mức khoảng 387 ppm trong 150năm qua, chủ yếu là do đốt nhiên liệu hóa thạch và một nguyên nhân nhỏ hơn là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và thay đổi việc sử dụng đắt. Ngoài ra, trong mười năm qua (2001-2010), + độ trung bình toàn cầu đã cao hơn 0,50C so với giai đoạn 1961-1990, mức cao nhất đối với bất ki giai đoạn 10 năm nào kể từ khi bắt đầu quan trắc khí hậu bằng thiết bị do đạc Khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên, lượng mưa tại các khu vực khác nhau đang thay đổi; các vùng biển ấm lên, băng tại các cực đang tan ra và mực nước biển đang, dang lên. Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn mực nước biển ‘rung bình toàn trong thời kỳ 1961-2003 đã dâng với tốc độ 1.5mnnăm, trong đó, đồng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0.42 + 0,12mm/năm và băng tan khoảng 0,70 + 0,50mm/ndim.
Bên cạnh nhiệt độ tăng và mực nước biển ding, cơn "người cũng đã cảm nhân ngày càng rõ rật về sự gia ting các hiện tượng thời tết cực đoan. Hạn hin và lũ lụt xây ra thường xuyên hơn: các cơn bão trở nên mạnh hơn; nhiễu đợt nắng nóng hon; sốngày lạnh, đêm lạnh và sương giá giảm di, trong khi sắc đợt nắng nóng ngày càng xảy ra thường xuyên hơn; cường độ của những cơn ‘bao và lốc nhiệt đới đã trở nên nghiêm trọng hơn. Xu hướng biển đổi thí hậu trong tương lai 1. Kịch bản biển đãi khí hậu.
Việc dự báo xu hướng biển đổi khí hậu phụ thuộc vào rắt nhiều yếu tổ, trong đồ chủ yếu dựa vào dự báo vỀ sự phát thải khí nhà kính. Sự phát thải khí nhà kính Luin văn Thạc sỹ Bùi Thị Thu Hiễn - CH2OQIT này lại phụ thuộc rit lớn vào sự phát triển kinh tế-xã hội toàn edu, dân số, thay đổi về công nghệ, iêu dùng, sản xuất, sir dụng đắt và năng lượng. Do đố, 1 kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau đã được xây dựng dựa rên sự thay đổi của các biển số khác nhau, “Các kịch bản về biển đôi khí hậu được xây dựng trong khuôn khổ các nghiên cứu của IPCC (2007) dựa trên các dự báo về sự phát thải khí nhà kính từ thấp đến cao và đựa trên các kịch bin phát triển kính tổ-xã hội toàn cầu.