Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Nội dung chính của chương này, tác giả trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về gian lận BCTC và các mô hình phát hiện, dự báo gian lận BCTC. Trên cơ sở đó tác giả tìm ra khe hổng nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu của luận văn.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài đã công bố 1.1 Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến gian lận BCTC Abbot, Park, và Parker (2000) đã sử dụng phân tích hồi quy thống kê để kiểm tra xem sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán độc lập có làm giảm nhẹ khả năng gian lận. Họ phát hiện ra rằng các công ty với các ủy ban kiểm toán, trong đó bao gồm các nhà quản lý độc lập, ít có khả năng bị xử phạt về báo cáo gian lận hoặc sai lệch. Bell và Carcello (2000) đã phát triển và thử nghiệm một mô hình hồi quy logistic để ước lượng khả năng gian lận báo cáo tài chính cho một khách hàng kiểm toán, dựa trên sự hiện diện hay vắng mặt của một số yếu tố nguy cơ gian lận.
Các yếu tố nguy cơ trọng yếu bao gồm trong mô hình cuối cùng là: yếu tố môi trường kiểm soát nội bộ, tăng trưởng công ty nhanh chóng, lợi nhuận tương đối không đầy đủ hoặc không phù hợp, quản lý nhấn mạnh quá mức vào việc đáp ứng thu nhập dự báo, quản lý nói dối kiểm toán viên hoặc là quá lảng tránh, tình trạng sở hữu ( tập thể hay tư nhân), và thời hạn tương tác giữa một môi trường kiểm soát yếu và một thái độ quản lý tích cực đối với BCTC. Beasley (1996) sử dụng phân tích hồi quy logit để kiểm tra sự tương quan giữa các gian lận BCTC và cơ chế quản trị doanh nghiệp về tỷ lệ phần trăm của giám đốc bên ngoài, tỷ lệ phần trăm của giám đốc độc lập và sự tồn tại của một ủy ban kiểm 8 toán. Mẫu nghiên cứu với 75 công ty gian lận và 75 công ty không gian lận được thiết kế theo cặp cùng quy mô doanh nghiệp, ngành công nghiệp và khoảng thời gian. Kết quả cho thấy có mối quan hệ nghịch giữa số thành viên trong Hội đồng quản trị là người bên ngoài với khả năng gian lận phát sinh, và mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tỷ lệ cổ phiếu do thành viên là người bên ngoài nắm giữ với gian lận.
Paul Dunn (2003) sử dụng một mẫu của 103 công ty gian lận BCTC đã bị kết án bởi SEC6 hoặc tòa án tương ứng với 103 công ty không bị kết án gian lận BCTC. Nghiên cứu đo lường ảnh hưởng của 2 biến quyền lực cấu trúc và quyền lực sở hữu đến gian lận BCTC. Biến kiểm soát được sử dụng gồm: đặc điểm đội ngũ quản lý cấp cao (nhiệm kỳ, đa dạng và kích thước), cấu trúc quản trị doanh nghiệp (nhiệm kỳ Hội đồng quản trị và kích thước), và động cơ kinh tế (khủng hoảng tài chính và các dịch vụ chứng khoán thứ cấp). Nghiên cứu sử dụng phân tích tương quan, phân tích đơn biến và mô hình lồi quy cho thấy rằng cả quyền lực cấu trúc và quyền sở hữu có quan hệ tích cực với hành vi gian lận BCTC.
Ngoài ra, các công ty gian lận thường có nhiệm kỳ đội ngũ quản lý cấp cao và Hội đồng quản trị thấp, sự đa dạng trong nhiệm kỳ của đội ngũ quản lý cấp cao không phải là một yếu tố dự báo quan trọng của một công ty tham gia vào các hành vi gian lận. Church & cộng sự (2001) đã tiến hành điều tra danh sách gồm 127 kiểm toán viên nội bộ để giải thích cho một sự khác biệt bất thường trong thu nhập hoạt động của những công ty có BCTC gian lận. Các tác giả tìm được các yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá BCTC gian lận của kiểm toán viên nội bộ. Trong đó, một số lượng lớn các giải thích liên quan đến gian lận (1) khi thu nhập lớn hơn dự kiến, và (2) khi giao ước nợ là hạn chế.
Các tác giả cũng thấy rằng kiểm toán viên nội bộ chỉ định một khả năng gian lận cao hơn khi (1) thu nhập lớn hơn dự kiến, và (2) khi một kế hoạch tiền thưởng dựa trên thu nhập được sử dụng và các giao ước nợ là hạn chế. Hơn nữa, phát hiện này có thể cung cấp một số tiện ích cho những 6 Thuật ngữ Tiếng Anh dùng để chỉ Ủy ban Chứng khoán và Thị trường Chứng khoán Mỹ là Securities and Exchange Commission. 9 người tham gia vào quản trị doanh nghiệp; đó là, kiểm toán viên nội bộ rất nhạy cảm với các yếu tố làm tăng khả năng gian lận BCTC. Romney & cộng sự (1980), Sorenson & cộng sự (1983) xem xét các dấu hiệu báo động đỏ (red flags) để tiên đoán về gian lận.
Sau đó, Albrecht & Romney (1986) tiếp tục kiểm tra 87 dấu hiệu báo động đỏ về gian lận trên mẫu chọn là các công ty có và không có gian lận. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 1/3 trong số các dấu hiệu có ý nghĩa trong việc tiên đoán gian lận. Sweeney (1998) phân tích mối quan hệ giữa các BCTC gian lận và các hoạt động giao dịch nội gián để xác định xem liệu các kiểm toán viên có thể tăng cường đánh giá rủi ro gian lận BCTC bằng cách bao gồm các hoạt động giao dịch nội gián trong mô hình của họ. Các kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng giao dịch nội gián và các yếu tố BCTC có ích trong một mô hình trong đó phân biệt các công ty gian lận và công ty không gian lận.2 Nghiên cứu phát hiện và dự báo gian lận BCTC Đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện trên thế giới nhằm mục đích phát hiện và dự báo gian lận BCTC.
Trong khi mô ̣t số nghiên cứu trước sử dụng dữ liệu nội bộ để phát hiện gian lận tài chính (các mối quan hệ kiểm toán viên - khách hàng, đặc điểm cá nhân và hành vi , kiểm soát nội bộ ), các nghiên cứu gần đây nhất công nhận rằng chiến lược này là vấn đề đối với hầu hết các bên liên quan vì nguồn dữ liệu nội bộ là không có sẵn cho các nhà đầu tư , kiểm toán viên , hoặc nhà lâ ̣p quy (Albrecht, Albrecht & Albrecht, 2008; Cecchini & cô ̣ng sự, 2010; Dechow & cô ̣ng sự, 2011). Ngay cả các công ty kiểm toán và các nhà quản lý cũng không có quyền truy cập vào dữ liệu nội bộ cho đến khi một vị trí kiểm toán đã được xác lâ ̣p (Albrecht, Albrecht & Albrecht 2008). Theo đó , tác giả giới hạn phần thảo luận về nghiên cứu phát hiện gian lận BCTC sử dụng thông tin công khai có sẵn. Những nghiên cứu này nói chung đã sử dụng dữ liê ̣u từ BCTC đươ ̣c công bố kết hợp với các phương pháp phân loại thống kê và/hoặc khai phá dữ liệu.
Một bản tóm tắt các nghiên cứu phát hiện gian lận 10 BCTC liên quan sử dụng dữ liệu công khai được trình bày trong Phụ lục 5, trong đó cho thấy các tác giả và năm xuất bản , một mô tả ngắn gọn về các biế n , các phương pháp được sử dụng, các bộ dữ liệu, và kết quả phân loại tỷ lê ̣ phát hiê ̣n trên tổng thể và trên mẫu gian lận. Persons (1995) sử dụng mẫu gồm 103 công ty gian lận kết hợp với 103 công ty không gian lận trong cùng ngành và cùng khoảng thời gian. Tổng cộng 10 biến, với 8 tỷ số tài chính được sử dụng để phát triển một mô hình hồi quy từng bước (Stepwise Logistic) nhằm cung cấp bằng chứng cho thấy các dữ liệu kế toán là hữu ích trong việc phát hiện gian lận trên BCTC. Kiểm tra khả năng dự báo của mô hình cho kết quả tốt trong việc phân loại tất cả các doanh nghiệp là không gian lận cho tất cả các mức chi phí tương đối của sai lầm loại I và loại II.
Mô hình này cũng xác định chính xác một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp gian lận và không gian lận BCTC, trong khi chỉ không phân loại được một tỷ lệ nhỏ tương đối nhỏ các công ty không gian lận khi chi phí sai lầm thực tế được giả định. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy bốn chỉ số quan trọng trong việc dự báo gian lận gồm Đòn bẩy tài chính (Tổng nợ/Tổng tài sản), Vòng quay vốn (Vốn lưu động/Tổng tài sản), Cơ cấu tài sản (Tài sản cố định/Tổng tài sản) và Quy mô doanh nghiệp (Logarit giá trị sổ sách của tổng tài sản tại cuối năm tài chính). Beneish (1999) sử dụng mô hình xác suất đơn vị dựa trên tỷ trọng của mẫu ngoại sinh probit WESML (Weighted exogenous sample maximum likehood) với một mẫu nghiên cứu gồm 74 công ty có điều chỉnh thu nhập (theo cáo buộc của SEC) và tất cả các công ty không điều chỉnh thu nhập có sẵn dữ liệu cho giai đoạn 1982-1992 trên Computast. Nghiên cứu thiết lập một mô hình toán học gọi là M- score sử dụng 8 tỷ số tài chính để đánh giá có hay không khả năng công ty gian lận BCTC, bao gồm: Chỉ số kỳ thu tiền (DSRI), Chỉ số lợi nhuận gộp (GMI), Chỉ số chất lượng tài sản (AQI), Chỉ số tăng trưởng doanh thu (SGI), Chỉ số khấu hao (DEPI), Chỉ số chi phí quản lý, bán hàng (SGAI), Chỉ số đòn bẩy (LVGI), Tổng dồn tích (TATA).
Kết quả nghiên cứu xác định được ngưỡng giá trị của mô hình là - 1,78. Các công ty có M-score > -1,78 sẽ bị phân loại là có điều chỉnh thu nhập. Mô 11 hình này giúp các kiểm toán viên, các nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhận diện được một công ty có khả năng gian lận BCTC với xác xuất dự đoán đúng là 76%. Spathis (2002) đã xây dựng một mô hình để phát hiện BCTC gian lận.
Ông sử dụng phương pháp thống kê hồi quy logistic đơn biến và đa biến. Một mẫu gồm 76 công ty sản xuất Hy Lạp (trong đó có 38 công ty gian lận và 38 công ty không gian lận), 10 tỷ số tài chính và chỉ số Z-core được sử dụng để xây dựng mô hình phát hiện các nhân tố liên quan đến BCTC gian lận cho kết quả dự báo gian lận đúng đến 84%.