Chương 1: TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 Giới thiệu về cây rau họ thập tự 1.1 Nguồn gốc, Phân loại Nguồn gốc Ho cải Brassicaceae là loài thường cây thân thảo, hoa có 4 cánh, đa số dùng dé làm rau an. Theo Viện si Vavilop các loại củ cai trang nhiệt đới, cai bac thảo, cải trắng, cải xanh phát sinh từ Trung Quốc. Cải bắp, cải bông, củ cải đỏ, củ cải trắng có nguồn gốc phát sinh từ Trung tâm Địa Trung Hải (Trần Văn Minh và cs, 2006). Phân loại Ho cai Brassicaceae có khoảng 375 chi va 3200 loài.
Chi Brassica chứa khoảng 100 loài bao gồm cải dầu, cải bắp, súp lơ, bông cải xanh, cải bruxen, củ cải, cải mù tạt. Số nhiễm sắc thể trong họ cải dao động từ 2n = 8 đến 2n = 256 (Lysak và cộng sự, 2005). Căn cứ vào đặc điểm của cuống lá, phiến lá (kích thước, hình dạng, màu sắc.các giống rau cải của nước ta hiện nay được phân thành 3 nhóm: Nhóm cai be (Brassica campesris L.), Nhóm cải thìa/ cai trang (Brassica chinensis L.), Nhóm cai xanh/cải cay/cải canh (Brassica juncea L. * Nhóm cai be (Brassica campestris L.) Nhóm cai be còn gọi là nhóm cai dua (chủ yếu dé muối dua).
Nhóm cai này ưa nhiệt độ thấp, chịu lạnh. Nhiệt độ thích hợp 15 - 22°C do đó trồng thích hợp trong vụ Đông Xuân. Đặc điểm nhóm cải be là có be lá to, dày, lá lớn. Năng suất của 1 cây có thê 2 - 4 kg, thời gian sinh trưởng từ lúc gieo đến thu hoạch từ 120 - 160 ngày.
* Nhóm cải thìa/cải trắng (Brassica chinensis L.) Nhóm cải thìa có đặc điểm dễ phân biệt đó là hình lóng máng, màu trắng, phiến lá hơi tròn, cây mọc gọn, có khả năng thích ứng rộng (10 - 27°C) nên có thê trồng được quanh năm. Nhóm này có thời gian sinh trưởng ngắn sau trồng 30-50 ngày có thể thu hoạch, dé dé giống, có thé trồng xen, gieo lẫn các loại rau khác và cải xanh chống giáp vụ rau (Lê Thị Khánh, 2008). * Nhóm cải xanh/cải cay/cải canh (Brassica juncea L.) Nhóm cải xanh có khả năng chịu được nóng và mưa to, nhóm cải nay có khả năng thích nghi rộng, thường được trồng quanh năm đặc biệt trong vụ Xuân Hè và Thu Đông. Cải xanh có cuống hơi tròn, nhỏ, ngắn.
Phiến lá nhỏ và hẹp, bản lá mỏng, cây thấp, nhỏ, lá có màu xanh vàng đến xanh đậm ăn có vị cay nên gọi là cải cay, dé dé giống. Theo Phạm Thị Minh Tâm (2001), cải xanh là cây thân thảo hằng niên, cao 40-60 cm hoặc có thể cao hơn. Là loại rau có vị đắng (thường gọi là cải đắng), lá có màu xanh đậm hoặc xanh nõn chuối. Lá mọc từ gốc, cuống lá hơi tròn và nhỏ, phiến lá nhỏ hẹp, có răng cưa không đều.
Hoa mọc thành chùm dạng ngủ, hoa có 4 cánh màu vàng. Hạt hình cầu màu đen trồng phô biến khắp cả nước. Cai xanh là loại cây nhanh cho thu hoạch nên có tác dụng giải quyết giáp vụ rất hiệu quả. Rau cải xanh có thời gian từ gieo trồng đến thu hoạch là 40-45 ngày.
Về giá trị dược liệu của cây cải xanh, theo Đông y cải xanh có vị cay, tính ôn, có tác dụng giải cảm hàn, thông đàm, lợi khí,. Trong cải xanh có chứa nhiều vitamin A, B, C, K, axit nicotic, caroten, abumin,. Theo các chuyên gia dinh dưỡng cải xanh có thể chữa được bệnh gout, chống lão hoá da cũng như có thé trị được viêm họng (dẫn theo Nguyễn Thị Loan, 2018).2 Một số bệnh hại chính trên cây họ thập tự Bệnh chết rạp cây con (Damping off): do nam Pythium, Phytophthora, Rhizoctonia, ƒusarium,. bệnh xuất hiện phổ biến ở vườn ươm cây con, hại nặng vào mùa mưa với nhiệt độ thấp.
Triệu chứng đầu tiên xuất hiện trên thân những nốt nhỏ sau đó vết bệnh sẽ lan đài theo chiều đài của thân và chu vi thân. Làm cho thân cây bị teo lại có màu vàng và bị gẫy gục trong khi lá vẫn còn xanh, giai đoạn cây con vừa mọc khỏi mặt đất và có 1-2 cặp lá thật được đánh giá là thời điểm gây bệnh nặng nhất. Đặc biệt khi âm độ cao, cây bị bệnh mọc 1 lớp sợi nam trắng làm cây chết. Bệnh thối lá rau ăn lá: do nắm Rhizoctonia solani gây ra.
Thường gây hại nặng vào mùa mua, vết bệnh tái xanh, xám loang lỗ, thối rách lá, làm cho các lá cải dính vào nhau, thối nhũn, có hạch nắm màu trắng, nâu trên vết bệnh. Giai đoạn cây lớn, lớp vỏ gốc thân bị teo thắt lại, Trong điều kiện nóng ẩm vét bệnh loang lỗ bất thường khô và rách, những lá dưới chạm đất bị thối úng nước. Bệnh sưng rễ thập tự: do nam Plasmodiophora brassicae Wor gây ra, nam xâm nhập qua ré làm rễ sưng to san sùi giống như củ, bề mặt nhẫn, bên trong ruột trắng và 3 cứng, xuất hiện từng đoạn hoặc toàn bộ rễ làm lá vàng úa, héo rũ, cây sinh trưởng chậm, thấp nhỏ, không hình thành bắp. Trong điều kiện khô hạn triệu chứng vàng héo lá sẽ xảy ra nhanh hơn.
Bệnh đốm lá: Theo Lowel (2000), bệnh đốm lá trên rau cải do vi khuẩn Xanthomonas capestris p.V armmoraciae gây ra, xuất hiện trên tất cả các cây trồng thuộc họ thập tự và một số giống cải hoang dại. Triệu chứng của bệnh là xuất hiện các đốm trên lá thật, đôi khi xuất hiện rải rác khắp bề mặt lá do sự xâm nhiễm qua thủy không. Đốm bệnh là các chấm sung nước, màu xanh giọt dầu có dạng lõm xuống. Bệnh lở cỗ rễ: do nắm Rhizoctonia solani gây ra, Bệnh phát triển gây hại nặng trong mùa mưa, nhiệt độ thích hợp cho nắm phát triển là từ 25- 30°C.
Thường gây thiệt hại năng ở giai đoạn cây con cô thân bị úng và teo tóp lại, cây bị ngã ngang nhưng lá van còn xanh tươi, sau đó mới héo lại. Bệnh thường tan công mạnh vào 5-10 ngày sau khi gieo. Nắm có khả năng xâm nhiễm trên thân, cành, lá, khi tiếp xúc với đất âm ướt và điều kiện khí hậu nóng âm.2 Một số đặc điểm của nam Rhizoctonia solani Kuhn 1.1 Vị trí phân loại nam Rhizoctonia solani Giới: Fungi Ngành: Basidiomycotina Lớp: Basidiomycetes Bộ: Mycelia sterilia Họ: Thelephoraceae Chi: Rhizoctonia Loài: Rhizoctonia solani (R. solani còn được mô tả dưới nhiều tên khác nhau.
Các tên được chap nhận là đồng nghĩa với R. typical, Sclerotium irregular va S.2 Phố ki chủ của nam Rhizoctonia solani Matsumoto T. va cs (1932) da diéu tra duoc hon 200 nguồn nam Rhizotonia solani từ 59 loại cây trồng khác nhau và ở các vùng khác nhau của nhật bản. Kết qua cho thấy Rhizoctonia solani gây hại hầu hết trên các cây ăn quả.
Theo Ogoshi (1987) nam Rhizoctonia solani xâm nhiễm và gây hại trên 35 bộ, 52 họ, 125 giống bao gồm 142 loài từ Cycadopida đến Monocotyledoneae.C và cs (1986) đã thông báo nam Rhizoctonia solani tan công hàng trăm cây trồng khác nhau như cai bắp, đậu đỏ, dưa chuột, củ cải đường, cần tay, cà rốt. Ở Việt Nam, Kim và cs (1981) đã ghi nhận đậu nành, bắp, lúa miễn (Shorgum vulgare), mia, và 27 loài cỏ dại khác ở đồng bang sông Cửu Long là kí chủ của nam R.3 Đặc điểm hình thái của nam Rhizoctonia solani Theo Masumoto T. và cs (1933) điều kiện tối ưu cho sự phát triển của R. solani là 28 — 31°C, pH từ 5 — 7.
Nhiệt độ có anh hưởng lớn đến sự phát triển của nắm.Theo Thomas (1925), Schultz (1936), Richter và Schneider (1953) các mẫu R. solani phân lập từ các khu vực có nhiệt độ cao, hoặc các mau phân lập từ nha lưới có mức nhiệt độ sống tối thích cao hơn so với các mẫu R. solani từ các vùng lạnh. Trong đất, nắm có thể tồn tại ở nhiệt độ từ 5 — 42°C (Parmeter, 1970), hạch nam tồn tại được trong đất khô va âm ít nhất được 130 ngày, khi ngâm trong nước nóng ở độ sâu §em sống được 224 ngày (Takahashi và cs, 1954).
Theo Burgess và cs (2009) nam R. solani là nam thuộc nhóm nắm tro, không có trạng thái hữu tính hoặc trạng thái hữu tính hiếm. Ở giai đoạn vô tính nam không hình thành bảo tử, chỉ hình thành hạch. Theo Whitney và Parmeter (1963), Papav1zas (1965), khi nuôi cấy trong môi trường agar, hạch nam sinh ra từ các mẫu phân lập có sự khác nhau có hình dang, kích thước và màu sắc.
solani tồn tai trong đất đưới dạng hạch nắm vai năm nhờ vào lớp mang day bên ngoài. Hach nắm được hình thành nhiều nhất ngoài ánh sáng, trong điều kiện đất khô, hạch nam có thé giảm khả năng xâm nhiễm và gây hại sau 21 tháng (Vincelli và cs, 1989).4 Đặc điểm sinh học của nắm Rhizoctonia solani Ở giai đoạn vô tinh, nam phát triển ở dạng sợi, tạo hạch. Khuan ty còn non không màu, khi trưởng thành có màu nâu nhạt do sự tích lũy sắc tố nâu (Sneh, 1996), đường kính khuẩn ty khoảng 5 — 8 um với những vách ngăn không liên tục, chỗ phân nhánh hơi thắt lại, sợi nam phân nhánh tương đối thang góc, có vách ngăn gan nơi phân nhánh (Watanabe, 2002). Hạch nắm được hình thành từ sự kết hợp của hệ sợi nắm, thường sau 3 — 4 ngày thì đạt kích thước tối đa và bat đầu hình thành sắc tố nâu.
Hach có kích thước càng lớn, số lượng càng nhiêu thì độc tính càng cao. Hach nắm có dạng hình cầu, đáy phẳng, mau trang khi còn non và màu nâu đen khi về già, bề mặt hạch thô va có nhiều lỗ li ti như tổ ong (Từ Thị Mỹ Thuận, 2008). Kích thước đường kính hạch thường biến động trong khoảng 1 — 3 mm (Watanabe, 2002), một số hạch có thé liên kết với nhau tạo thành khối lớn. Hạch nắm còn non có thê chìm đưới nước nhưng khi già thì nổi lên do lớp tế bảo phía ngoài hạch trở nên rỗng (Phạm Minh Sang, 2003).
Ở giai đoạn hữu tinh, nấm sinh ra đảm (basidium) và bao tử đảm (basidiospore). Dam không có vách ngăn, kích thước đảm dao động trong khoảng 10 — 15 x 7,8 jim, trên mỗi đảm có từ 2 — 4 mau đề gan bao tử đảm. Bao tử đảm có kích thước 8 — 11 x 6,5 pm có hình trứng hoặc hình bầu dục, đơn bào. Theo Keilier (1996) bào tử đảm không có khả năng tồn tại, nhưng có vai trò lớn trong sự biến đổi di truyền của nam này.5 Đặc điểm sinh lý Rhizoctonia solani Theo Parmeter JR ed.
(1970) nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nam. Nam có thé tồn tại trong khoảng nhiệt độ từ 5- 42°C, trong đó nắm phát triển mạnh nhất ở 30°C, nhiệt độ tối thiểu là 5- 10°C, nhiệt độ tối đa là 40- 42°C.