Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Khuyến lâm (Forestry Extention) là một quá trình chuyển giao kiến thức, đào tạo kỹ năng và những điều kiện vật chất cần thiết cho nông dân để họ có đủ khả năng quản lý và bảo vệ được nguồn tài nguyên rừng tại cộng đồng [5]. * Mục tiêu của khuyến lâm: Làm thay đổi cách đánh giá, cách nhận thức của nông dân trước những khó khăn trong cuộc sống, giúp họ có cái nhìn thực tế và lạc quan hơn đối với mọi vấn đề trong cuộc sống để họ tự quyết định biện pháp vượt qua những khó khăn. Nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn, miền núi.
Bảo tồn được các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Hỗ trợ nông dân, chủ trang trại, xã viên hợp tác xã, tổ hợp tác trong các nông lâm trường nắm vững chủ trương, chính sách, nâng cao kiến thức và kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh và phát triển sản xuất nông lâm nghiệp. Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng bền vững. * Nguyên tắc của khuyến lâm: Xuất phát từ nhu cầu của nông dân và yêu cầu phát triển nông thôn.
Bảo đảm là cầu nối và thông tin hai chiều giữa người làm công tác khuyến lâm, nhà quản lý, nhà khoa học với nông dân và nông dân với nông dân. Dân chủ, công khai, có sự tham gia tự nguyện của nông dân, hỗ trợ và hướng dẫn dân làm, không làm thay dân. n 5 Xã hội hóa công tác khuyến lâm, hoạt động khuyến lâm phải phối hợp với các chương trình, dự án và hoạt động phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp và nông thôn khác. * Hoạt động trong khuyến lâm: Chia sẻ kiến thức bản địa với các tiến bộ kỹ thuật Thúc đẩy sự kết nối và chia sẻ giữa các cá nhân và cộng đồng.
Thúc đẩy việc xây dựng năng lực của các cá nhân và các nhóm thông qua sự giáo dục bán chính thức. Thúc đẩy sự phát triển các tổ chức phục vụ cho việc quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên đất, rừng và tiếp cận thị trường. Kết nối việc lập kế hoạch, thực thi, theo dõi và đánh giá của các cộng đồng nhằm vào hoạt động độc lập của họ. Giải quyết các vấn đề và quản lý các mâu thuẫn để đi đến việc thống nhất các quyết định.
Có các phương pháp khuyến lâm thích hợp cho mỗi tình trạng và nhóm sở thích. * Hệ thống khuyến lâm các cấp của nước ta hiện nay: Trung ương + Thời phong kiến và thuộc Pháp, chủ yếu là các tù trưởng địa phương và các lý trưởng quản lý tài nguyên lâm sản. + Từ năm 1945 đến trước năm 1993, công tác khuyến lâm nằm dưới sự chỉ đạo của Cục Lâm nghiệp. + Năm 1993, bộ phận khuyến lâm nằm trong Vụ Lâm sinh thuộc Bộ Lâm nghiệp.
+ Tháng 11 năm 1995, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn được thành lập trên cơ sở cơ cấu từ 3 bộ: Bộ Lâm nghiệp, Bộ Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm. Cục Khuyến nông và khuyến lâm đảm nhận nhiệm vụ quản lý công tác khuyến lâm. n 6 + Ngày 18/7/2003 thực hiện nghị định 86/2003/ND, cơ cấu tổ chức Cục Khuyến nông và Khuyến lâm thành Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm Quốc gia, chịu sự quản lý về công tác khuyến lâm của Cục Lâm nghiệp. Cấp tỉnh + Trước năm 1995, đa số các tỉnh đảm nhiệm công tác khuyến lâm là của Trung tâm Khuyến nông và Khuyến lâm.
Chỉ có 1 số tỉnh làm tốt công tác khuyến lâm đã tách độc lập thành Trung tâm Khuyến lâm tỉnh: Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Ninh. + Sau năm 1995, đa số các tỉnh thì điều hành công tác khuyến lâm là của Trung tâm Khuyến nông tỉnh. Chỉ có một số tỉnh là thành lập Trung tâm Khuyến nông và Khuyến lâm tỉnh như: Thanh Hóa, Bắc Giang, Hòa Bình. Một số tỉnh thì lại thành lập Trung tâm khoa học kỹ thuật và khuyến nông tỉnh như: Nghệ An, Quảng Ngãi, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Cán bộ khuyến lâm cấp tỉnh phải có trình độ đại học trở lên, và chủ yếu phải được đào tạo tại các trường đầu ngành. Ở Việt nam cán bộ khuyến lâm cấp tỉnh chủ yếu đào tạo từ ĐH Lâm nghiệp Xuân mai, một số cũng có thể từ các khoa lâm sinh của các trường ĐH Nông Lâm theo vùng (ĐH Tây Bắc, ĐH Tây Nguyên, ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, ĐH Nông Lâm Huế, ĐH Nông Lâm Thành phố Hồ chí Minh). Cấp huyện + Duy trì hoạt động khuyến lâm bởi các Trạm Khuyến nông Khuyến lâm. Cấp cơ sở + Tổ chức ở cấp cơ sở (các xã hoặc cụm xã) là mạng lưới khuyến nông khuyến lâm viên.
Ngoài ra hoạt động khuyến lâm còn có sự tham gia của các đoàn thể như: Hội phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên,. Một số địa phương có hình thức CLB khuyến nông khuyến lâm, CLB nông dân làm giàu,. cũng tham ra rất tích cực vào công tác khuyến lâm. Cơ sở pháp lý - Nghị định số 13/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ về việc thành lập hệ thống Khuyến nông, Khuyến lâm, Khuyến ngư.
- Thông tư 02/LB-TT ngày 2/8/1993 về việc cụ thể hóa việc thực hiện NĐ 13/CP. Như vậy cuối năm 1993 nước ta chính thức có Hệ thống Khuyến nông Quốc gia. - Thực hiện Nghị định số 86/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/7/2003, Quyết định số 118/2003/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp ngày 3/11/2003 về thay đổi cơ cấu tổ chức Cục Khuyến nông - Khuyến lâm, thành lập Trung tâm Khuyến nông Quốc gia. Tiếp sau năm 2005 thực hiện Nghị định số 56/2005/NĐ-CP và Thông tư số 60/2005/TT-BNN.
- Quyết định số 38/2005/QĐ-BNN về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng và bảo vệ rừng. - Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 8/1/2010 về khuyến nông thay cho Nghị định số 56/2005/NĐ-CP, cơ quan Khuyến nông Trung ương chính thức là Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thuộc Bộ NN&PTNT cụ thể hoá công tác khuyến nông, khuyến ngư trong giai đoạn hiện nay. - Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2010-2020; - Quyết định 05/2009/QĐ-TTg ngày 13/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang đến năm 2020; - Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT "Hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng"; n 8 - Quyết định số 1398/QĐ-UBND ngày 18/8/2008 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí lập Quy hoạch phát triển rừng sản xuất tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010 - 2020; - Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 29/6/2009 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc Phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2009-2020; - Quyết định số 1577/QĐ-UBND ngày 30/9/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bắc Giang. - Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm và có nhiều chủ trương, chính sách đối với công tác khuyến lâm.
Do vậy công tác Khuyến lâm đã có những bước phát triển nhanh, hệ thống tổ chức khuyến nông phát triển mạnh từ Trung ương đến cơ sở. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Hệ thống khuyến nông các địa phương đã tích cực, chủ động trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao, có những đóng góp vào thành công chung của sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác khuyến lâm vẫn còn những hạn chế, tồn tại đó là: + Các chương trình, dự án khuyến nông nhìn chung còn phân tán, dàn trải, công tác triển khai còn chậm đã ảnh hưởng đến hiệu quả công tác khuyến nông. + Việc thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về khuyến lâm của các cơ quan còn lúng túng, chưa toàn diện.
+ Chưa có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa khuyến nông, khuyến lâm nhà nước với các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp để huy động nguồn lực phục vụ hoạt động khuyến nông. n 9 Do vậy cần thiết phải đổi mới công tác khuyến lâm, trong đó trọng tâm là đổi mới về cơ chế chính sách, đổi mới về phương thức quản lý và tổ chức thực hiện để nâng cao hiệu quả công tác khuyến lâm trên phạm vi toàn quốc. Lịch sử nghiên cứu khuyến nông trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Các hoạt động khuyến nông, kết quả sản xuất nông nghiệp và vai trò khuyến nông của một số nước trên thế giới.
* Ở Mỹ (1914) - Một trong những điều kiện hoạt động khuyến nông là cần có nguồn kinh phí tài trợ giúp đỡ nông dân. Mỹ là một trong những nước hoạt động khuyến nông của Nhà nước khá sớm. - Năm 1843, Sớm nhất ở NewYork nhà nước cấp nguồn kinh phí khá lớn cho phép UBNN bang thuê tuyển những nhà khoa học nông nghiệp có năng lực thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông nghiệp cho nông dân [9]. - Năm 1853, Edward Hitchcoch, là chủ tịch trường đại học Amherst và là thành viên của UBNN bang Massachuisetts đã có nhiều công lao đào tạo khuyến nông cho nông dân và học sinh, sinh viên.
Ông cũng là người sáng lập ra Hội nông dân và Học viện nông dân [14]. - Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào tạo khuyến nông trong trường đại học. Năm 1891 bang NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông đại học. Những năm sau đó nhiều nhiều trường đại học như Đại học Chicago, Đại học Wicosin.
cũng đưa khuyến nông vào chương trình đào tạo. Bộ thương mại cũng như ngân hàng và nhiều công ty công, nông, thương nghiệp tài trợ cho các hoạt động khuyến nông. Đến năm 1907 ở Mỹ đã có 42 trường/39 bang có đào tạo khuyến nông. Năm 1910 có 35 trường có bộ môn khuyến nông [5].
n 10 - Năm 1914, Mỹ ban hành đạo luật khuyến nông và thành lập Hệ thống Khuyến nông quốc gia. Giai đoạn này đã có 8861 Hội nông dân, với khoảng 3. - Mỹ là quốc gia có 6% dân sống bằng nghề nông nghiệp nhưng nền nông nghiệp Mỹ được xếp vào nhóm những nước nông nghiệp phát triển. Nhiều sản phẩm nông nghiệp của Mỹ chiếm lĩnh thị trường thế giới như ngô, đậu tương .