Đánh giá bước đầu kết quả tạo hình âm đạo cho bệnh nhân mắc hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp đánh giá bước đầu kết quả tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ cho bệnh, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

75
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU VÀ HÌNH THÁI CỦA HỆ SINH DỤC NỮ

1.1. Âm đạo

1.2. Cấu trúc mô học ống âm đạo

1.3. Mạch máu và thần kinh của âm đạo

1.4. Tử cung và vòi tử cung

1.5. Buồng trứng

1.6. Cơ quan sinh dục ngoài

1.6.1. Âm hộ

1.6.2. Âm vật

1.7. Mạch và thần kinh của âm hộ

2. CHƯƠNG 2: HỘI CHỨNG MAYER – ROKITANSKY– KUSTER – HAUSER

2.1. Đặc điểm lâm sàng

2.2. Đặc điểm cận lâm sàng

3. CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

3.1. Các phương pháp điều trị không phẫu thuật

3.1.1. Phương pháp của Frank

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser (MRKH) là một dị tật bẩm sinh nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ sinh dục nữ. Bệnh nhân mắc hội chứng này thường không có âm đạo hoặc âm đạo rất ngắn, dẫn đến khó khăn trong quan hệ tình dục và vô sinh. Theo thống kê, tỷ lệ mắc hội chứng MRKH là 1/5000 phụ nữ. Việc điều trị hội chứng này đã có nhiều phương pháp, trong đó phẫu thuật tạo hình âm đạo là một lựa chọn phổ biến. Tuy nhiên, các phương pháp hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế và biến chứng. Do đó, nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả của phương pháp tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ, một kỹ thuật mới có thể khắc phục những nhược điểm của các phương pháp trước đó.

II. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU VÀ HÌNH THÁI CỦA HỆ SINH DỤC NỮ

Hệ sinh dục nữ bao gồm các cơ quan sinh dục trong và ngoài. Âm đạo là một ống xơ cơ có khả năng giãn nở, được lót bởi lớp biểu mô lát tầng không sừng hóa. Cấu trúc mô học của âm đạo rất quan trọng trong việc tạo hình âm đạo. Các lớp của âm đạo bao gồm lớp niêm mạc, lớp cơ và lớp mô liên kết. Sự phát triển và chức năng của âm đạo phụ thuộc vào sự cân bằng hormone, đặc biệt là estrogen. Việc hiểu rõ cấu trúc và chức năng của âm đạo giúp các bác sĩ có thể thực hiện phẫu thuật tạo hình một cách hiệu quả hơn.

III. HỘI CHỨNG MAYER ROKITANSKY KUSTER HAUSER

Hội chứng MRKH được chia thành hai thể: thể điển hình và thể không điển hình. Bệnh nhân thường gặp khó khăn trong quan hệ tình dục và vô sinh. Chẩn đoán hội chứng này thường dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng như siêu âm và cộng hưởng từ (MRI). MRI được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán, giúp xác định rõ cấu trúc của âm đạo và tử cung. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân mắc hội chứng này.

IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Có hai phương pháp chính để điều trị hội chứng MRKH: phương pháp không phẫu thuật và phương pháp phẫu thuật. Phương pháp không phẫu thuật như nong âm đạo có thể mang lại kết quả nhất định nhưng thường không bền vững. Ngược lại, phẫu thuật tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ đang được nghiên cứu và áp dụng tại Việt Nam. Phương pháp này có thể khắc phục những nhược điểm của các phương pháp trước đó, đồng thời đảm bảo tính thẩm mỹ và chức năng sinh lý cho bệnh nhân.

V. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT

Nghiên cứu này đã tiến hành đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ cho bệnh nhân mắc hội chứng MRKH. Kết quả cho thấy phương pháp này mang lại hiệu quả tích cực, giúp bệnh nhân cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản và tâm lý. Đặc biệt, việc sử dụng mảnh ghép môi bé âm hộ không chỉ đảm bảo tính thẩm mỹ mà còn giảm thiểu các biến chứng so với các phương pháp truyền thống. Điều này mở ra hướng đi mới trong điều trị hội chứng MRKH tại Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU VÀ HÌNH THÁI CỦA HỆ SINH DỤC NỮ Hệ sinh dục nữ bao gồm các cơ quan sinh dục trong và ngoài. Cơ quan sinh dục trong bao gồm buồng trứng, vòi tử cung hay ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo và các cơ quan bên ngoài gồm âm vật và tập hợp các thành phần gò mu, môi lớn, môi bé, tiền đình âm đạo gọi chung là âm hộ [60, 3]. Cơ quan sinh dục nữ trên thiết đồ đứng dọc của chậu hông [60].

Cơ quan sinh dục trong 1. Âm đạo Âm đạo là một ống xơ cơ đàn hồi có chiều dài khoảng 7-10 cm có khả năng giãn nở đáng kể, được lót bên trong bởi một lớp biểu mô lát tầng không sừng hóa, trải dài từ tiền đình âm đạo đến tử cung. Thành trước âm đạo liên quan với đáy bàng quang ở phía trên và niệu đạo ở dưới. Thành sau âm đạo ngăn cách với trực tràng bởi túi cùng Douglas.

Đầu trên âm đạo bám vào cổ tử cung và cùng với phần âm đạo của cổ tử cung tạo thành vòm âm đạo. Xung quanh đầu dưới âm đạo có hành tiền đình và cơ hành xốp có vai trò như là một cơ thắt âm đạo. Ở nữ giới chưa quan hệ tình dục, đầu dưới thường được đậy bằng một màng niêm mạc thủng (màng trinh). Bình thường, trục của âm đạo và tử cung tạo với nhau một góc 90°.

Cấu trúc mô học ống âm đạo Thành âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp [1, 55]: 3 Luan van + Trong cùng là lớp niêm mạc với nhiều nếp gấp ngang được lợp bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa và được bao phủ bởi một lớp chất nhày do tuyến cổ tử cung và một phần các tuyến ở tiền đình âm đạo tiết ra. Estrogen thúc đẩy việc tích trữ glycogen ở lớp giữa và lớp trên của biểu mô. Khi các tế bào biểu mô già cỗi và bong ra, glycogen được giải phóng và chuyển hóa bởi vi khuẩn tạo ra axit lactic giúp làm giảm độ pH trong lòng ống và ức chế sự phát triển của mầm bệnh. Về lớp đệm, mô liên kết dưới biểu mô tạo thành các nhú chân bì và chia thành 2 lớp.

Lớp sát với biểu mô có nhiều tế bào liên kết, lớp sát với thớ cơ chứa nhiều tĩnh mạch, sợi chun. Các tế bào lympho và bạch cầu (chủ yếu là bạch cầu trung tính) có mặt trong mô liên kết. Rải rác có những nang bạch huyết. Âm đạo có một số đầu tận của thần kinh cảm giác, nhiều hơn ở 1/3 dưới âm đạo.

Không có tuyến ở lớp đệm. + Lớp giữa là lớp cơ, được chia thành 2 thớ, cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong. Lớp cơ ngoài tiếp nối với lớp tương đương của tử cung và dày hơn nhiều so với lớp trong. + Lớp ngoài cùng gồm một lớp mô liên kết dày đặc bên trong và một lớp mô liên kết lỏng lẻo bên ngoài.

Lớp mô liên kết bên trong chứa nhiều sợi chun giúp tăng khả năng chun giãn của thành âm đạo. Lớp bên ngoài chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết, và thần kinh. Biểu mô lát tầng không sừng hóa Lớp đệm Lớp cơ vòng Lớp cơ dọc Hình 1. Cơ quan sinh dục nữ trên thiết đồ đứng dọc của chậu hông [55].

Các tế bào trong biểu mô lát tầng không sừng hóa thường sáng màu do có nhiều glycogen trong tế bào chất của chúng. Lớp đệm được nhận biết bởi sự phong phú của các mạch máu thành mỏng. Mạch máu và thần kinh của âm đạo Động mạch âm đạo là các nhánh âm đạo tách từ động mạch tử cung, động mạch trực tràng giữa và động mạch chậu trong. Tĩnh mạch âm đạo tạo thành 1 đám rối nối với đám rối tĩnh mạch tử cung ở trên, đám rối tĩnh mạch bàng quang ở trước và sau cùng đổ vào tĩnh mạch chậu trong.

Bạch mạch âm đạo: đổ vào chuỗi hạch động mạch tử cung hoặc chuỗi động mạch âm đạo rồi đổ vào các hạch chậu. Thần kinh: gồm các nhánh tách ra từ đám rối hạ vị. Tử cung và vòi tử cung Tử cung nằm giữa chậu hông bé, giữa bàng quang và trực tràng, thông với các vòi tử cung ở trên và liên tiếp với âm đạo ở dưới. Tử cung là một cơ quan rỗng, hình quả lê, là nơi trứng làm tổ, chứa đựng và nuôi dưỡng thai nhi cho tới khi ra đời.

Tử cung được chia làm hai phần là thân tử cung tạo nên 2/3 trên và cổ tử cung chiếm 1/3 dưới. Khoang rỗng bên trong tử cung là một khoang hẹp, được chia thành buồng tử cung và ống cổ tử cung. Thành tử cung gồm 3 lớp: lớp phúc mạc, lớp cơ và lớp niêm mạc. Âm đạo bám quanh cổ tử cung, chia cổ tử cung thành phần trên âm đạo và phần âm đạo.

Các dây chằng rộng, dây chằng tròn, dây chằng cổ tử cung là những phương tiện neo giữ tử cung tại chỗ. Nguồn cấp máu chính cho tử cung là động mạch tử cung. Có 2 vòi tử cung, mỗi vòi dài khoảng 10 cm, nằm ở hai bên tử cung, trong bờ trên của dây chằng rộng. Vòi tử cung có đầu trong đi vào góc trên ngoài của buồng tử cung và đầu ngoài mở ra ổ phúc mạc.

Từ ngoài vào trong, vòi được chia làm 4 phần là phễu vòi, bóng vòi, eo vòi và phần tử cung. Phần đầu vòi có các tua vòi gắn vào buồng trứng có tác dụng bắt trứng rụng và dẫn trứng vào trong buồng tử cung. Buồng trứng Ở phụ nữ chưa sinh nở, buồng trứng nằm ở phía sau và dưới phần ngoài vòi tử cung. Buồng trứng có hình hạt đậu dẹt, khoảng 3 cm chiều dài, 1,5 cm chiều rộng và 1 cm chiều dày.

Đầu trên của buồng trứng là nơi bám của tua buồng trứng của vòi tử cung. Lớp ngoài của buồng trứng gọi là lớp vỏ, có chứa nang noãn, có chất đệm bao quanh. Lớp giữa là tuỷ của buồng trứng, cuống phía trong của buồng trứng có những mạch máu vào thần kinh đi vào. 5 Luan van Buồng trứng của người phụ nữ tương đương với tinh hoàn của nam giới, bên cạnh việc chứa nang noãn nó còn sản sinh ra một số hormone, chủ yếu là estrogen, progesteron.

Cơ quan sinh dục ngoài Cơ quan sinh dục ngoài của nữ bao gồm âm hộ và âm vật. Cơ quan sinh dục ngoài của nữ [31]. Âm hộ Âm hộ gồm gò mu, môi lớn, môi bé và tiền đình âm đạo. - Gò mu: Một gò nhô lên liên tiếp với thành bụng phía trên và nếp lằn bẹn.

- Môi lớn: Hai nếp da lớn tạo nên giới hạn bên của âm hộ. - Môi bé: Hai nếp da nhỏ hơn nằm giữa các môi lớn. - Tiền đình âm đạo là khoảng lõm nằm giữa mặt trong hai môi bé, sau âm vật và trước hãm môi âm hộ. Âm vật Âm vật tương đương với dương vật ở nam giới và được tạo nên bởi hai vật hang.

Âm vật nằm trước tiền đình âm đạo, dưới khớp mu, trên lỗ niệu đạo. Phía dưới âm vật có một nếp niêm mạc gọi là hãm âm vật.3 Mạch và thần kinh của âm hộ Động mạch của gò mu, môi lớn và môi bé là động mạch thẹn ngoài tách từ động mạch đùi. Động mạch của âm hộ, hành tiền đình, tuyến tiền đình là các nhánh của động mạch đáy chậu nông. Nhánh hang và nhánh lưng âm vật tách từ động mạch thẹn trong.

6 Luan van Tĩnh mạch đổ vào các tĩnh mạch lưng nông và lưng sâu rồi vào các đám rối tĩnh mạch đổ về các tĩnh mạch thẹn trong và thẹn ngoài. Thần kinh của gò mu và môi lớn là các nhánh sinh dục của các dây thần kinh chậu bẹn và sinh dục đùi. Các phần khác do các nhánh đáy chậu của thần kinh thẹn. Có 1 số sợi giao cảm và thực vật từ đám rối hạ vị đi vào hành tiền đình, tuyến tiền đình và vật hang âm vật.

HỘI CHỨNG MAYER – ROKITANSKY– KUSTER – HAUSER 1. Đặc điểm lâm sàng Hội chứng MRKH là một dị tật bẩm sinh của đường sinh dục nữ. Do các rối loạn trong quá trình phát triển của củ Muller dẫn đến sự giảm sản hoặc bất sản âm đạo và tử cung. Hội chứng MRKH được chia làm hai thể: thể điển hình chỉ bao gồm bất sản tử cung và 4/5 trên của âm đạo và thể không điển hình kèm theo một số dị tật ngoài hệ sinh dục như thận, tim mạch, thần kinh hay thính lực [46].

Nguyên nhân gây hội chứng này vẫn chưa thực sự rõ ràng. Những dữ liệu hạn chế cho đến nay gợi ý rằng có sự liên quan giữa bệnh với sự bất thường của gen Wnt- 4 [56]. Sự di truyền bệnh trong phả hệ gia đình không liên tục và triệu chứng lâm sàng không tương đồng giữa các thành viên [20]. Bệnh nhân thường đến khám với các triệu chứng như không có kinh nguyệt mặc dù đã đến tuổi dậy thì, đau bụng vùng chậu, gặp khó khăn trong quan hệ tình dục và vô sinh.

Chiều cao, cân nặng và các đặc tính sinh dục thứ phát như hình dạng bên ngoài âm đạo, kích thước vú và sự phát triển lông mu là bình thường trong hầu hết các trường hợp. Tuy nhiên khi thăm khám phụ khoa sẽ phát hiện âm đạo ngắn, dài từ 0,5-2cm hoặc chỉ là một lỗ tịt, không thấy cổ tử cung tại vị trí vòm âm đạo [46]. Chẩn đoán phân biệt cho một bệnh nhân có biểu hiện vô kinh nguyên phát và âm đạo ngắn bao gồm màng trinh không thủng, vách ngăn ngang âm đạo hoặc tịt cổ tử cung. Bệnh nhân có vách ngăn ngang âm đạo thường sẽ có màng trinh bình thường với phần gần của ống âm đạo bị tắc nghẽn.

Khám trực tràng sẽ xác định được khối phồng của âm đạo. Ở thanh thiếu niên hoặc phụ nữ bị teo cổ tử cung, âm đạo thường ngắn lại hoặc có thể xuất hiện như một vết lõm. Hội chứng MRKH cũng được chẩn đoán phân biệt với Hội chứng không nhạy cảm androgen (AIS). Bệnh nhân AIS có vẻ bề ngoài giống nữ giới nhưng không có kinh nguyệt khi đến tuổi dậy thì.

Thăm khám thấy tuyến vú có phát triển, lông mu và 7 Luan van lông nách ít hoặc không có. Âm đạo thường ngắn, tử cung hoặc cổ tử cung không phát triển, tinh hoàn thường tìm thấy trong ổ bụng. Chẩn đoán hội chứng AIS được thực hiện bằng cách định lượng nồng độ Testosterone trong huyết thanh cho kết quả bình thường, tiếp theo là phân tích nhiễm sắc thể cho kết quả 46, XY [6]. Đặc điểm cận lâm sàng Cộng hưởng từ (MRI) hiện nay được cho là phương pháp có giá trị nhất và được xem như tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán hội chứng MRKH [46, 28].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá bước đầu kết quả tạo hình âm đạo cho bệnh nhân mắc hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser" của tác giả Lê Thị Xuân Quỳnh, dưới sự hướng dẫn của ThS. BS Nguyễn Đình Minh và ThS. BS Đỗ Thị Quỳnh, trình bày những kết quả ban đầu trong việc tạo hình âm đạo cho bệnh nhân mắc hội chứng hiếm gặp này. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình phẫu thuật mà còn đánh giá hiệu quả và sự hài lòng của bệnh nhân sau can thiệp. Điều này mang lại lợi ích lớn cho các bác sĩ và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực y học, giúp họ hiểu rõ hơn về các phương pháp điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến y học và chăm sóc sức khỏe, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại huyện Yên Dũng, Bắc Giang, nơi đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, và Kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (2020-2021), cung cấp thông tin về quy trình chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị và chăm sóc sức khỏe hiện nay.