Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá kết quả bước đầu Dự án: 'Nghiên cứu phát triển trồng cây dược liệu tỉnh Bắc Kạn' tại xã Bình Văn, huyện Chợ Mới giai đoạn 2016 - 2019" được thực hiện bởi sinh viên Vũ Minh Hoàng, chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2019). Nghiên cứu thuộc loại hình đánh giá thực nghiệm mô hình kết hợp điều tra kinh tế nông thôn.
Lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ thực trạng nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên tại tỉnh Bắc Kạn đang bị khai thác quá mức dẫn đến nguy cơ cạn kiệt, trong khi các chương trình trước đây chỉ dừng lại ở mức điều tra sơ bộ hoặc khảo nghiệm rải rác mà chưa hình thành được chuỗi giá trị và vùng sản xuất chuyên canh tập trung. Trước bối cảnh Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn phê duyệt dự án khoa học công nghệ cấp tỉnh giao Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên chủ trì giai đoạn 2016 – 2019, xã Bình Văn (huyện Chợ Mới) được chọn làm địa bàn triển khai thí điểm ba loài dược liệu: Ba kích tím (Morinda officinalis), Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora) và Dong riềng đỏ (Canna edulis). Việc nghiên cứu, đánh giá kết quả thực tế sau hơn hai năm triển khai mô hình là yêu cầu cấp thiết nhằm cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện kỹ thuật và định hướng nhân rộng vùng trồng.
Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá kết quả bước đầu triển khai dự án phát triển cây dược liệu tại xã Bình Văn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển vùng trồng dược liệu tập trung trong những năm tiếp theo, đưa cây dược liệu trở thành cây trồng thế mạnh trong cơ cấu kinh tế địa phương.
Đề tài xác định 5 mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu đặc điểm, thuận lợi, khó khăn và các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá và phân tích những điều kiện tại xã Bình Văn phù hợp cho việc phát triển thành vùng trồng cây dược liệu tập trung.
- Đánh giá những kết quả bước đầu trong thực hiện dự án: “Nghiên cứu phát triển vùng trồng cây dược liệu tỉnh Bắc Kạn” đã đạt được tại xã Bình Văn.
- Đánh giá được những thuận lợi và khó khăn đối với việc phát triển vùng cây dược liệu tập trung tại xã Bình Văn.
- Đề xuất một số giải pháp cho phát triển vùng trồng dược liệu tập trung tại xã Bình Văn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Điều kiện và thực tế kết quả phát triển trồng cây dược liệu tại xã Bình Văn theo hai hình thức tổ chức sản xuất là Hợp tác xã (HTX Thắng Lợi) và các nhóm hộ dân.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Bình Văn, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thứ cấp và dữ liệu theo dõi dự án trong giai đoạn từ tháng 8/2016 đến tháng 4/2019; thời gian thực địa và điều tra trực tiếp từ tháng 1/2019 đến tháng 5/2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các khái niệm nền tảng trong kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, bao gồm: khái niệm về sản xuất và sản xuất vật chất; khái niệm cây dược liệu; khái niệm phát triển cây dược liệu gắn với sự tăng trưởng về quy mô diện tích, sản lượng và cơ cấu ngành; khái niệm phát triển dược liệu bền vững dựa trên nguyên tắc đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm suy giảm khả năng đáp ứng của tương lai. Cơ sở thực tiễn được đối chiếu với hướng dẫn Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc (GACP-WHO, 2004), Tuyên ngôn Alma-Ata (1978) của Tổ chức Y tế Thế giới và hệ thống chính sách của Việt Nam: Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Nghị định số 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 10/01/2014; Quyết định số 206/QĐ-BYT ngày 22/01/2015 của Bộ Y tế; Quyết định số 232/QĐ-UBND ngày 25/02/2016 và Quyết định số 1469/QĐ-UBND ngày 13/09/2016 của UBND tỉnh Bắc Kạn.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thu thập dữ liệu định tính và định lượng:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Tiếp cận và phân loại các báo cáo thống kê tình hình kinh tế - xã hội của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã Bình Văn qua các năm; các văn bản chính sách, hồ sơ thuyết minh và báo cáo định kỳ của dự án trồng dược liệu tỉnh Bắc Kạn.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
- Phỏng vấn bán cấu trúc: Tiến hành trao đổi trực tiếp với Giám đốc và các xã viên thuộc HTX Thắng Lợi, đại diện các nhóm hộ tham gia mô hình trồng dược liệu và những người có kinh nghiệm thu hái cây thuốc bản địa. Nội dung phỏng vấn tập trung vào quy mô đất đai, nguồn lực lao động, chi phí đầu tư đối ứng, kỹ thuật chăm sóc, thu hái và phương thức tiêu thụ.
- Phương pháp quan sát trực tiếp: Khảo sát thực địa điều kiện địa hình, chất lượng đất đai, tỷ lệ sống của cây trong các mô hình thâm canh và dưới tán rừng; kiểm tra quy trình vận hành và danh mục máy móc tại xưởng sơ chế dược liệu; quan sát thái độ và tập quán lao động của các hộ dân.
- Phương pháp khảo sát sinh trắc học sơ bộ: Đào mẫu và cân đo năng suất củ tươi của 10 khóm Hà thủ ô đỏ 2,5 tuổi tại từng mô hình (thâm canh và dưới tán rừng) dưới sự giám sát của cán bộ kỹ thuật dự án.
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu điều tra được tổng hợp, kiểm tra chéo, phân loại danh mục chi phí - doanh thu và xử lý tính toán các chỉ tiêu kinh tế (năng suất, chi phí trung gian, tổng chi phí, tổng giá trị sản xuất, giá trị gia tăng) trên phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài dựa trên thực trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc tại miền núi phía Bắc và tỉnh Bắc Kạn. Khóa luận xác lập mục tiêu nghiên cứu tổng quát cùng 5 mục tiêu cụ thể, nêu bật ý nghĩa học thuật trong việc củng cố phương pháp đánh giá dự án phát triển nông thôn, đồng thời cung cấp căn cứ thực tiễn giúp chính quyền địa phương và các đơn vị sản xuất nhận định rõ tiềm năng, thách thức khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Nội dung chương tập trung làm rõ vai trò sinh thái và kinh tế của cây dược liệu trong chiến lược xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tác giả phân tích lược sử nghiên cứu dược liệu trên thế giới (từ các công trình cổ như Thần Nông bản thảo, Bản thảo cương mục đến các tài liệu của WHO) và tình hình nghiên cứu cây thuốc tại Việt Nam (các công trình của Đỗ Tất Lợi, Lê Trần Đức, Viện Dược liệu). Chương này cũng phân tích các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Bộ Y tế và giới thiệu quyết định phê duyệt dự án nghiên cứu phát triển dược liệu của UBND tỉnh Bắc Kạn với mục tiêu xây dựng 10 ha mô hình và cơ sở sơ chế biến.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định cụ thể không gian nghiên cứu tại xã Bình Văn, đối tượng theo dõi gồm HTX Thắng Lợi và nhóm hộ nông dân từ năm 2016 đến năm 2019. Tác giả xây dựng hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu gồm: diện tích thực hiện so với kế hoạch, tỷ lệ sống, định mức chi phí đầu tư, năng suất, sản lượng, giá bán, hiệu quả kinh tế so sánh với cây trồng truyền thống (cây lúa), và các vướng mắc trong khâu tổ chức sản xuất. Các bước thu thập số liệu thứ cấp, phỏng vấn bán cấu trúc, quan sát hiện trường và phân tích số liệu thống kê được mô tả chi tiết.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là chương trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các kết quả nghiên cứu thu được tại địa bàn:
- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Bình Văn: Tổng diện tích tự nhiên 2.815 ha (trong văn bản nêu hơn 2.800 ha / 28 km²), gồm 7 thôn bản; địa hình đồi núi dốc 25° - 40°, độ cao trung bình 500 - 600m (đỉnh Pù Lòn cao 1020m, điểm thấp nhất 105m); nhiệt độ trung bình năm 19°C; lượng mưa bình quân 1.510 mm/năm (tập trung 75 - 80% vào mùa mưa). Đất đai gồm đất nông nghiệp màu nâu xám và đất đồi núi Feralit vàng. Dân số toàn xã có 1.500 người thuộc 333 hộ (thời điểm 2015), tỷ lệ hộ nghèo chiếm 39,3% (131 hộ). Đất sản xuất nông nghiệp hẹp (hơn 100 ha), phụ thuộc nước tự nhiên nên thường chỉ cấy lúa 1 vụ; diện tích rừng sản xuất đạt 1449,22 ha, rừng phòng hộ đạt 275,15 ha.
- Thực trạng thực hiện dự án dược liệu: Tổng diện tích trồng đạt 10,175 ha (vượt mức dự kiến ban đầu là 7,5 ha), gồm 3 loài chính: Ba kích tím, Hà thủ ô đỏ, Dong riềng đỏ.
- HTX Thắng Lợi thực hiện 4,05 ha: gồm 1,02 ha Ba kích tím dưới tán rừng; 1,0 ha Ba kích tím thâm canh; 1,28 ha Hà thủ ô đỏ dưới tán rừng; 0,75 ha Hà thủ ô đỏ thâm canh.
- Nhóm hộ dân thực hiện 6,12 ha: gồm 2,12 ha Dong riềng đỏ; 1,5 ha Ba kích tím dưới tán rừng; 0,75 ha Ba kích tím thâm canh; 1,0 ha Hà thủ ô đỏ dưới tán rừng; 0,75 ha Hà thủ ô đỏ thâm canh.
- Đầu tư cơ sở chế biến: Dự án hỗ trợ 50% chi phí thiết bị (136.000.000 đồng), HTX Thắng Lợi đối ứng 236.000.000 đồng (tổng mức đầu tư 372.000.000 đồng) để lắp đặt lò sấy dược liệu (99,5 triệu đồng), máy thái (26 triệu đồng), máy đóng gói chân không (85,5 triệu đồng), nồi hấp 2 lớp (52 triệu đồng), hệ thống điện (10 triệu đồng), nhà xưởng sơ chế (80 triệu đồng) và kho bảo quản (20 triệu đồng).
- Đánh giá các mô hình trồng:
- Cây Dong riềng đỏ: Trồng trên đất 1 vụ lúa, đạt năng suất 25 tấn khô/ha, sản lượng 53 tấn, thu nhập bình quân đạt 450.000.000 đồng/ha từ thân lá khô (giá 18.000 đồng/kg) cộng thêm nguồn thu từ hạt (70 kg/ha với giá 100.000 đồng/kg).
- Cây Hà thủ ô đỏ: Khảo sát sơ bộ giai đoạn 2,5 tuổi ghi nhận năng suất bình quân 1,62 kg củ/khóm (mô hình thâm canh) và 1,08 kg củ/khóm (dưới tán rừng). Chi phí đầu tư 1 ha thâm canh là 165.400.000 đồng, mô hình dưới tán rừng là 68.810.000 đồng.
- Cây Ba kích tím: Mô hình thâm canh dự kiến sau 5 năm đạt sản lượng 10.200 kg củ tươi/ha (8.500 gốc x 1,2 kg/gốc), doanh thu đạt 1,53 tỷ đồng/ha; mô hình dưới tán rừng đạt 2.550 kg/ha, doanh thu đạt 382,5 triệu đồng/ha. Tuy nhiên, mô hình tại HTX đang bị mối cắn phá gốc củ nghiêm trọng làm suy giảm mật độ cây sống.
- Phân tích tồn tại: HTX thiếu phân chuồng hoai mục đối ứng, lao động làm thuê thiếu kỹ năng (bón phân sát gốc, làm đứt dây leo); nhóm hộ thiếu vốn, e ngại rủi ro đầu ra, tập quán chăn thả gia súc tự do làm hư hại diện tích trồng.
Phần Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các kết quả đạt được về quy mô diện tích và tính khả thi kinh tế bước đầu của dự án. Khóa luận kiến nghị các cấp quản lý tiếp tục hỗ trợ vốn vay ưu đãi, hoàn thiện quy trình kỹ thuật phòng trừ mối cho cây Ba kích, củng cố chuỗi liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp và hướng dẫn nông dân tận dụng phụ phẩm ủ phân hữu cơ vi sinh.
Kết quả và đóng góp
1. Kết quả thực nghiệm và số liệu cụ thể trong văn bản
Khóa luận đã tổng hợp đầy đủ số liệu diện tích, định mức đầu tư và hiệu quả kinh tế của các mô hình dược liệu tại địa bàn nghiên cứu:
Bảng 1: Tổng hợp diện tích trồng cây dược liệu theo dự án tại xã Bình Văn (2016 - 2019)
| STT |
Loài cây và phương thức trồng |
HTX Thắng Lợi (ha) |
Nhóm hộ (ha) |
Tổng diện tích (ha) |
| 1 |
Dong riềng đỏ |
0 |
2,12 |
2,12 |
| 2 |
Ba kích tím trồng dưới tán rừng |
1,02 |
1,50 |
2,52 |
| 3 |
Ba kích tím trồng thâm canh |
1,00 |
0,75 |
1,75 |
| 4 |
Hà thủ ô đỏ trồng dưới tán rừng |
1,28 |
1,00 |
2,28 |
| 5 |
Hà thủ ô đỏ trồng thâm canh |
0,75 |
0,75 |
1,50 |
| Tổng |
Tổng diện tích |
4,05 |
6,12 |
10,175 |
Bảng 2: So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế giữa cây Dong riềng đỏ và cây Lúa (tính trên 1 ha)
| Chỉ tiêu so sánh |
Đơn vị tính |
Dong riềng đỏ |
Cây lúa |
Tỷ lệ (Dong riềng / Lúa) |
| Năng suất bình quân |
kg/ha |
25.000 |
5.440 |
4,60 lần |
| Giá bán bình quân |
1.000 đ/kg |
18,0 |
9,8 |
1,84 lần |
| Tổng giá trị sản xuất (GO) |
1.000 đ |
450.000 |
53.312 |
8,44 lần |
| Chi phí trung gian (IC) |
1.000 đ |
50.828,65 |
2.843,35 |
17,87 lần |
| Giá trị gia tăng (VA) |
1.000 đ |
399.171,35 |
50.468,65 |
7,91 lần |
| Chi phí công lao động |
1.000 đ |
3.000 |
3.000 |
1,00 lần |
| Tổng chi phí sản xuất |
1.000 đ |
53.828,65 |
5.843,35 |
9,19 lần |
Bảng 3: Chi phí đầu tư và kết quả khảo sát củ Hà thủ ô đỏ 2,5 tuổi tại Bình Văn
| Hạng mục / Chỉ tiêu |
Đơn vị tính |
Mô hình thâm canh |
Mô hình dưới tán rừng |
| Tổng chi phí đầu tư 1 ha |
1.000 đ |
165.400 |
68.810 |
| Số lượng cây giống (kể cả trồng dặm) |
Cây/ha |
9.350 |
2.750 |
| Khối lượng phân chuồng hoai mục |
Tấn/ha |
15 |
15 |
| Số công chăm sóc |
Công/ha |
230 |
120 |
| Vật liệu làm giàn leo |
Cọc/cây |
6.000 |
2.522 |
| Năng suất củ bình quân (tuổi 2,5) |
kg/khóm |
1,62 |
1,08 |
| Mật độ khóm sống ước tính (90%) |
Khóm/ha |
3.825 |
2.250 |
| Sản lượng củ ước tính (tuổi 2,5) |
kg/ha |
6.430 |
2.430 |
| Doanh thu ước tính (giá 100.000 đ/kg) |
1.000 đ |
619.650 |
243.000 |
| Lợi nhuận ước tính (tại thời điểm 2,5 tuổi) |
1.000 đ |
454.250 |
174.190 |
2. Giải pháp và đề xuất của tác giả
- Tăng cường chuyển giao kỹ thuật canh tác chuyên sâu cho người dân; tổ chức tập huấn có kiểm tra thực hành, tránh tình trạng bón phân hóa học sát gốc làm chết rễ cây dược liệu thân leo.
- Xử lý vấn đề thiếu phân bón hữu cơ đối ứng bằng cách hướng dẫn hộ dân tận dụng nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp, rơm rạ, phân chuồng sẵn có tại chỗ để ủ phân vi sinh, giảm chi phí mua ngoài.
- Thiết lập hàng rào bảo vệ và quy ước quản lý thôn bản nhằm chấm dứt tình trạng thả rông gia súc phá hoại các vạt đồi trồng dược liệu.
- Hoàn thiện liên kết chuỗi giá trị: Củng cố hợp đồng bao tiêu sản phẩm giữa HTX, nhóm hộ với Công ty TNHH Y học Bản địa Việt Nam nhằm đảm bảo giá sàn ổn định, không để tư thương ép giá.
- Tận dụng tối đa công suất của xưởng chế biến tại HTX Thắng Lợi: Ngoài chế biến Dong riềng đỏ và hoa Hồi, mở rộng sang sấy măng khô thương phẩm từ tre, nứa, vầu sẵn có tại địa phương để gia tăng giá trị sản xuất trong thời gian chờ thu hoạch các cây dài ngày.
3. Đóng góp khoa học và thực tiễn của khóa luận
Khóa luận là công trình đầu tiên hạch toán chi tiết dòng tiền đầu tư, chi phí trung gian và hiệu quả kinh tế so sánh của cây Dong riềng đỏ so với canh tác lúa nước truyền thống tại vùng miền núi huyện Chợ Mới. Tác giả chỉ ra được các nguyên nhân cụ thể dẫn đến suy giảm tỷ lệ sống của cây dược liệu dài ngày (do mối đất, chuột cắn dây, thiếu hụt phân chuồng và kỹ thuật chăm sóc của lao động thuê mướn), cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm cho Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Ban quản lý dự án tỉnh Bắc Kạn điều chỉnh định mức kỹ thuật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Do thời gian nghiên cứu diễn ra khi dự án mới bước sang năm thứ ba (tháng 1 – tháng 5/2019), các loài cây dược liệu dài ngày chưa đi hết chu kỳ sinh trưởng tự nhiên. Cụ thể, Hà thủ ô đỏ đạt tiêu chuẩn khai thác khi đủ 4 năm tuổi, Ba kích tím cần 5 năm tuổi; do đó số liệu sản lượng, doanh thu và lợi nhuận của hai loài này chỉ dừng ở mức khảo sát mẫu đào thử (10 khóm/mô hình) hoặc số liệu ước tính theo mật độ lý thuyết, chưa phải số liệu thu hoạch đại trà trên toàn bộ diện tích.
- Nghiên cứu chưa định lượng được chính xác tỷ lệ thất thoát do dịch hại mối tại các lô trồng Ba kích tím thâm canh của HTX Thắng Lợi và chưa phân tích hoạt chất hóa sinh (hàm lượng dược tính) của củ khi trồng dưới tán rừng so với trồng thâm canh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục theo dõi, đo đạc năng suất và kiểm nghiệm chất lượng dược liệu của Hà thủ ô đỏ khi bước vào tuổi thứ 4 và Ba kích tím ở tuổi thứ 5 để hoàn thiện chuỗi số liệu kinh tế hoàn chỉnh sau thu hoạch thực tế.
- Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật phòng trừ sinh học đối với đối tượng mối hại củ và chuột cắn dây Ba kích tím tại địa phương mà không vi phạm tiêu chuẩn an toàn dược liệu.
- Đánh giá khả năng thị trường và tính toán hiệu quả tài chính của việc mở rộng diện tích trồng thêm các loài mới theo định hướng của dự án như Đảng sâm và Hoài sơn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng và Nông học khi thực hiện các chuyên đề tốt nghiệp về đánh giá dự án nông - lâm nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vùng cao.
- Cán bộ khuyến nông, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Kạn và các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc tham khảo định mức chi phí vật tư, cơ cấu lao động khi xây dựng mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng hoặc đất bãi chuyển đổi.
- Các hợp tác xã và hộ gia đình nông dân có nhu cầu tiếp cận định mức kinh tế kỹ thuật trồng Dong riềng đỏ, Hà thủ ô đỏ, phương thức thiết kế nhà xưởng sấy dược liệu quy mô vừa và nhỏ (372 triệu đồng) gắn với kênh liên kết doanh nghiệp bao tiêu trực tiếp.
Câu hỏi thường gặp
1. Dự án trồng cây dược liệu tại xã Bình Văn do đơn vị nào chủ trì và triển khai những loài cây nào?
Dự án có tên đầy đủ là “Nghiên cứu phát triển trồng cây dược liệu tỉnh Bắc Kạn”, do UBND tỉnh Bắc Kạn phê duyệt tại Quyết định số 232/QĐ-UBND và 1469/QĐ-UBND năm 2016, cơ quan quản lý là Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn, cơ quan chủ trì thực hiện là Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (thời gian thực hiện 36 tháng, từ 8/2016 đến 7/2019). Tại xã Bình Văn, dự án thử nghiệm 3 loài cây gồm: Dong riềng đỏ, Hà thủ ô đỏ và Ba kích tím.
2. Tổng diện tích trồng cây dược liệu thực tế tại xã Bình Văn đạt bao nhiêu hecta và phân bổ giữa các đơn vị như thế nào?
Tổng diện tích trồng thực tế đạt 10,175 ha (vượt so với kế hoạch ban đầu). Phân bổ gồm: HTX Thắng Lợi thực hiện 4,05 ha (1,02 ha Ba kích dưới tán; 1,0 ha Ba kích thâm canh; 1,28 ha Hà thủ ô dưới tán; 0,75 ha Hà thủ ô thâm canh); Nhóm hộ dân thực hiện 6,12 ha (2,12 ha Dong riềng đỏ; 1,5 ha Ba kích dưới tán; 0,75 ha Ba kích thâm canh; 1,0 ha Hà thủ ô dưới tán; 0,75 ha Hà thủ ô thâm canh).
3. Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng Dong riềng đỏ so với cây lúa nước tại địa phương chênh lệch như thế nào?
Theo số liệu điều tra năm 2018, trồng 1 ha Dong riềng đỏ cho năng suất 25 tấn khô, giá bán bình quân 18.000 đồng/kg, mang lại tổng giá trị sản xuất 450.000.000 đồng/ha, cao gấp 8,44 lần so với cây lúa (53.312.000 đồng/ha). Tuy nhiên, tổng chi phí sản xuất Dong riềng đỏ cũng cao gấp 9,19 lần so với lúa (53.828.650 đồng/ha so với 5.843.350 đồng/ha) do đòi hỏi chi phí giống và phân bón lớn hơn.
4. Khó khăn lớn nhất khiến cây Ba kích tím bị thiệt hại tại HTX Thắng Lợi là gì?
Cây Ba kích tím trồng tại HTX Thắng Lợi bị thiệt hại nặng do mối cắn phá rễ củ (vì củ có vị ngọt) và chuột cắn đứt dây leo, khiến nhiều cây dù đã 2,5 tuổi vẫn bị chết. Ngoài ra, việc HTX thiếu nguồn phân chuồng hoai mục đối ứng và lao động làm thuê thiếu tinh thần trách nhiệm (bón phân NPK sát gốc, làm đứt dây leo khi phát cỏ) cũng làm giảm đáng kể tỷ lệ sống của cây.
5. Sản phẩm Dong riềng đỏ của các hộ dân xã Bình Văn được tiêu thụ qua kênh nào và cơ chế giá ra sao?
Sản phẩm Dong riềng đỏ được tiêu thụ trực tiếp qua Công ty TNHH Y học Bản địa Việt Nam theo hợp đồng bao tiêu đã ký kết, không qua khâu trung gian thương lái. Nhờ đó, giá bán luôn được giữ ổn định ở mức 18.000 đồng/kg thân lá khô và 100.000 đồng/kg hạt giống.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Minh Hoàng đã cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết và khách quan về kết quả bước đầu triển khai mô hình trồng dược liệu tại xã Bình Văn, huyện Chợ Mới. Nghiên cứu khẳng định cây Dong riềng đỏ mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội so với cây lúa trên đất 1 vụ, đồng thời bước đầu ghi nhận tiềm năng năng suất của cây Hà thủ ô đỏ và Ba kích tím. Các phân tích về chi phí đầu tư, vướng mắc trong khâu đối ứng vật tư và dịch hại thực tế là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác nhân rộng vùng trồng dược liệu tập trung trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.