ĐẶT VẤN ĐỀ Đau cổ gáy là một hội chứng phổ biến, có liên quan đến thoái hóa cột sống cổ (THCSC) và các rối loạn chức năng thần kinh tại vùng cổ vai gáy, thường không liên quan tới bệnh lý viêm [1], [2]. Triệu chứng thường gặp gồm đau cổ, vai, kèm theo rối loạn cảm giác, vận động do tổn thương rễ dây thần kinh cột sống cổ (CSC) [3], [4]. Theo thống kê năm 2017, tỷ lệ lưu hành đau cổ toàn cầu đạt 3.000 dân số và tỷ lệ mắc bệnh là 806,6/100. Hiện nay, số ca mắc THCSC ngày càng gia tăng do tư thế làm việc không hợp lý, đặc biệt ở lao động văn phòng và lao động nặng.
Dù không gây nguy hiểm tính mạng, nhưng bệnh ảnh hưởng đến vận động, làm suy giảm khả năng lao động, là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nghỉ hưu sớm. Do đó, nghiên cứu và phát triển phương pháp điều trị hiệu quả, an toàn là rất cần thiết [1]. Theo Y học cổ truyền (YHCT), đau cổ gáy thuộc phạm vi chứng Tý, có thể do phong hàn thấp, khí trệ huyết ứ hoặc can thận hư gây ra [6]. Trong đó nguyên nhân do THCSC chủ yếu thường là can thận hư kết hợp với phong hàn thấp, làm suy giảm chức năng gân xương và gây đau nhức kéo dài [6], [7].
Điều trị THCSC thường kết hợp nhiều phương pháp nhằm giảm triệu chứng bệnh. Trong đó, YHCT có thế mạnh với các phương pháp không dùng thuốc như điện châm, cứu ngải, xoa bóp bấm huyệt, hoặc sử dụng thuốc YHCT giúp khu phong, trừ thấp, hoạt huyết, thư cân, cải thiện triệu chứng toàn diện hơn [8], [9]. Hiện nay, xu hướng sử dụng dược liệu điều trị bệnh cơ xương khớp mạn tính đang được ưu tiên cả trong và ngoài nước. Trong khi thuốc dược liệu dạng uống đã được nghiên cứu nhiều, thì thuốc dạng cao dán vẫn còn ít nghiên cứu tại Việt Nam.
Thuốc dược liệu dạng cao dán có ưu điểm thẩm thấu trực tiếp vào vùng bệnh, tăng cường hoạt huyết tại chỗ, giúp thông kinh hoạt lạc, tiện dụng và dễ sử dụng. Cao dán Hoạt Lạc Chỉ Thống, bào chế từ Dây gắm, Quế chi, Địa liền…, đã được đánh giá độc tính cấp và tính kích ứng da trên thực nghiệm. Theo YHHĐ, các thành phần này chứa stibenoid, flavonoid, alkaloid có 2 tác dụng chống viêm, giảm đau, chống oxy hóa, hỗ trợ điều trị đau nhức xương khớp hiệu quả [10]. Tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Lào Cai, bên cạnh việc điều trị bệnh lý THCSC với các phương thức vật lý trị liệu, chúng tôi có sử dụng kết hợp các bài thuốc, cao thuốc YHCT và cho kết quả điều trị rất khả quan.
Để đánh giá một cách khoa học về hiệu quả của phương pháp điện châm, xoa bóp bấm huyệt kết hợp Cao dán Hoạt lạc trong bệnh lý thoái hóa cột sống cổ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả của cao dán Hoạt lạc chỉ thống kết hợp điện châm và xoa bóp bấm huyệt trong điều trị đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ” với hai mục tiêu sau: 1. Đánh giá kết quả của cao dán Hoạt lạc chỉ thống kết hợp điện châm, xoa bóp bấm huyệt trong điều trị đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ (thể can thận hư kiêm phong hàn thấp) tại bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Lào Cai. Đánh giá tác dụng không mong muốn của phương pháp can thiệp. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống cổ theo Y học hiện đại 1. Sơ lược về giải phẫu chức năng của cột sống cổ Hình 1. Hình ảnh giải phẫu cột sống cổ [11] - Chức năng chịu tải trọng và bảo vệ tủy sống: Ở CSC các thân đốt sống nhỏ, đĩa đệm không bao phủ toàn bộ bề mặt thân đốt, khiến tải trọng chủ yếu dồn lên đĩa đệm dẫn tới giảm chiều cao gian đốt. Khoang gian đốt C2 - C3, C5 - C6 chịu tải trọng lớn nhất ở CSC, do đó là những vị trí thường gặp thoái hóa.
CSC còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tủy sống và các cấu trúc thần kinh bên trong ống sống [11]. - Chức năng vận động: CSC có phạm vi vận động rộng, đóng vai trò quan trọng trong các chuyển động của đầu và cổ. Đoạn cổ trên (C1 - C3) đáp ứng cho chuyển động xoay, thường ít gặp thoái hóa ở đoạn này. Các cử động của CSC bao gồm: + Cử động theo mặt phẳng trước sau: gấp (cúi) và duỗi (ngửa) cổ: chủ yếu tại khớp chẩm - đốt đội, với sự hỗ trợ của các đốt sống từ C2 đến C7.
4 + Cử động theo mặt phẳng ngang: nghiêng sang hai bên phải, trái. + Cử động quay cổ: động tác này chủ yếu do khớp trục đội (C1 - C2) đảm nhiệm còn lại là sự tham gia của các đốt sống từ C2 đến C7 [11], [12]. Đau vùng cổ gáy do thoái hoá CSC 1. Khái niệm và nguyên nhân Đau vùng cổ gáy là tình trạng đau co cứng cơ vùng vai gáy, kèm theo hạn chế vận động CSC.
Đau vai gáy do THCSC là nguyên nhân phổ biến nhất, chiếm tới 70 - 80% [13], [14], [15]. Thoái hóa CSC là bệnh lý mạn tính, tiến triển chậm, thường gặp ở người lớn tuổi và/hoặc do tư thế vận động không phù hợp. Tổn thương cơ bản bao gồm thoái hóa sụn khớp, đĩa đệm, kèm theo những thay đổi ở xương dưới sụn và màng hoạt dịch. THCSC thường gặp thoái hoá ở C5 - C6 hoặc C6 - C7 [13].
Đau vùng cổ gáy trên lâm sàng thường được phân loại là: cấp tính kéo dài dưới 6 tuần, bán cấp kéo dài từ 6 đến 12 tuần và mạn tính là trên 12 tuần. Nguyên nhân THCSC thường do các yếu tố: - Quá trình thoái hóa tự nhiên: Liên quan đến tuổi tác làm giảm khả năng tổng hợp collagen, mucopolysaccharid, ảnh hưởng đến đĩa đệm, sụn khớp, cơ, dây chằng và thần kinh cạnh cột sống. - Các yếu tố cơ giới: Áp lực quá tải kéo dài lên sụn khớp là nguyên nhân quan trọng đẩy nhanh quá trình thoái hóa. - Các yếu tố có thể góp phần đẩy nhanh quá trình bệnh và THCSC khởi phát sớm: Chấn thương cột sống nghiêm trọng, hẹp ống sống bẩm sinh, loạn trương lực cơ cổ, tổn thương trong hoạt động thể thao [16], [17].
Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng Lâm sàng: thường gồm bốn hội chứng chính sau [1], [12]: - Hội chứng CSC: 5 + Đau vùng cổ gáy: có thể khởi phát cấp tính sau chấn thương, sau các động tác vận động cổ quá mức hoặc tự nhiên sau khi ngủ dậy. Đau cũng có thể từ từ mạn tính. Đau tăng lên ở tư thế cổ thẳng hoặc cúi đầu kéo dài, mệt mỏi, căng thẳng, lao động nặng, thay đổi thời tiết đặc biệt bị nhiễm lạnh. + Điểm đau CSC khi ấn vào các gai sau, cạnh CSC tương ứng các rễ thần kinh.
+ Hạn chế vận động CSC, có thể kèm theo vẹo cổ, hay gặp trong đau CSC cấp tính. - Hội chứng rễ thần kinh: + Đau âm ỉ tăng từng cơn, từ vùng gáy lan lên vùng chẩm và xuống vai hoặc cánh tay, bàn tay. Đau tăng khi xoay đầu hoặc gập cổ về phía bên đau. + Rối loạn cảm giác kiểu rễ: cảm giác kiến bò, tê rần dọc tay hoặc đầu ngón tay, quanh khớp vai, yếu cơ hoặc teo cơ.
+ Một số nghiệm pháp đánh giá tổn thương rễ thần kinh cổ: dấu hiệu bấm chuông, nghiệm pháp Spurling, nghiệm pháp dạng vai, kéo giãn cổ. - Hội chứng động mạch đốt sống: Nhức đầu hoặc đau đầu vùng chẩm, thái dương, trán và hai hố mắt; kèm chóng mặt hoa mắt giảm thị lực thoáng qua, mất thăng bằng, mệt mỏi. - Hội chứng chèn ép tuỷ cổ: Tùy theo mức độ và vị trí tổn thương mà biểu hiện chỉ ở chi trên hoặc cả thân và chi dưới. Dáng đi không vững, đi lại khó khăn; yếu hoặc liệt chi, teo cơ ngọn chi, dị cảm.
Tăng phản xạ gân xương. - Các triệu chứng khác: dễ cáu gắt, thay đổi tính tình, rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng làm việc… Tùy theo vị trí CSC bị tổn thương mà có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc đồng thời các biểu hiện trên…[1], [17]. Cận lâm sàng: - X quang CSC: cho thấy các hình ảnh thoái hoá trên X-quang theo Kellgren và Lawrence (dựa trên phim X-quang) [13], [18]: 6 + Độ 1: gần như bình thường, có thể có gai xương nhỏ + Độ 2: khe khớp hẹp nhẹ, có gai xương nhỏ. + Độ 3: khe khớp hẹp rõ, có nhiều gai xương kích thước vừa, vài chỗ đặc xương dưới sụn, có thể có biến dạng đầu xương.
+ Độ 4: khe khớp hẹp nhiều, gai xương kích thước lớn, đặc xương dưới sụn, biến dạng rõ đầu xương. Bình thường Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 Giai đoạn 4 Hình 1. Phân loại thoái hóa CSC trên phim X-quang theo Kellgren- Lawrence [19]. - Chụp cộng hưởng từ (MRI) CSC: trong THCSC cho thấy các hình ảnh tổn thương như phim X -quang; phì đại các dây chằng dọc, vị trí tổn thương rễ thần kinh, hình ảnh thoát vị, mức độ thoát vị, khối u…[1], [12].
- Chụp cắt lớp vi tính: chụp cắt lớp vi tính đơn thuần có thể được chỉ định khi không có MRI hoặc chống chỉ định chụp MRI [1], [12]. - Điện cơ: có thể giúp phát hiện tổn thương nguồn gốc thần kinh và phân biệt bệnh lý tủy cổ với bệnh lý rễ và dây thần kinh ngoại biên [1], [12]. Cần lưu ý: gần đây tình trạng toàn thân không bị thay đổi, không sốt, không có các rối loạn chức năng thuộc bất cứ cơ quan nào (dạ dày, ruột, sản phụ khoa, phế quản phổi.) mới xuất hiện; không có các biểu hiện đau các 7 vùng cột sống khác: lưng, cổ, sườn, khớp khác. Các xét nghiệm dấu hiệu viêm và bilan phospho-calci âm tính [1], [12].
Chẩn đoán phân biệt [3], [12]: - Các bệnh lý CSC như khối u CSC, viêm CSC nhiễm khuẩn, chấn thương CSC, thoát vị đĩa đệm CSC … - Các bệnh lý trong ống sống cổ như u tuỷ, xơ cứng cột bên teo cơ, xơ cứng rải rác. - Bệnh lý ngoài CSC như viêm đám rối thần kinh cánh tay. - Bệnh lý khớp vai và viêm quanh khớp vai. - Hội chứng lồi ra lồng ngực, viêm đám rối thần kinh cánh tay, hội chứng đường hầm cổ tay.
- Hội chứng đau loạn dưỡng giao cảm phản xạ. - Bệnh lý tuỷ sống do viêm, nhiễm trùng, đa xơ cứng. - Bệnh lý tim mạch, hô hấp, tiêu hoá gây đau vùng cổ vai hoặc tay. Điều trị Nguyên tắc điều trị [1], [12]: - Điều trị triệu chứng bệnh kết hợp với nguyên nhân nếu có thể.