Đặt vấn đề Khoa học công nghệ trong ngành xây dựng đã và đang phát triển mạnh mẽ trong những thập kỷ gần đây. Một sự thật mà ta không thể phủ nhận là các tòa nhà cao tầng, cầu treo, sân vận động, nhà máy,… không ngừng được xây dựng với quy mô ngày càng lớn hơn. Trong công cuộc phát triển kinh tế toàn cầu thì việc luân chuyển hàng hóa trở nên hiệu quả hơn nhờ ứng dụng khoa học công nghệ. Một trong các loại công trình có công năng quan trọng trong việc vận hành hàng hóa trên khắp thế giới là dạng nhà kho phân loại phục vụ công tác logistics trong ngành quản lý chuỗi cung ứng.
Bằng chứng là rất nhiều kho bãi phục vụ cho các công tác này đang được xây dựng trên khắp thế giới. Trong đó, phân loại hàng hóa đều đã được tự động hóa bằng robot nhằm giảm thiểu đối đa nhầm lẫn và việc vận chuyển trong nhà kho sẽ được thực hiện bởi các xe nâng chuyên dụng (Hình 1. Hệ thống thiết bị này có đặc điểm là di chuyển thường xuyên, chúng gây tác động đến các kết cấu của kho bãi khi giờ đây các cấu kiện như cột, dầm, sàn sẽ chịu tải trọng động ngoài các tĩnh tải thông thường. Bảo trì liên tục các kết cấu của công trình là công tác thiết yếu để đảm bảo an toàn và kéo dài tuổi thọ của chúng.1 Xe nâng và robot trong kho bãi logistics (Nguồn: Internet) Những công trình quy mô lớn cần có thời gian xây dựng lâu dài nên việc theo dõi, bảo trì liên tục các kết cấu của công trình là công tác thiết yếu.
Bởi không chỉ do các sai lệch trong quá trình thi công mà các yếu tố tự nhiên như gió, bão, động đất,… kèm các tác dụng động lực học khác cũng sẽ khiến cấu kiện không đạt chuẩn so với thiết kế. Để đảm bảo chất lượng của các cấu kiện, chẩn đoán sức khỏe kết cấu (Structural Health Monitoring - SHM) là một biện pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề này. Việc này giúp nhận biết sớm các mối nguy hại trên kết cấu, tạo điều kiện 2 thuận lợi để sửa chữa hoặc thay thế những cấu kiện bị hư hỏng kịp thời, đánh giá tuổi thọ còn lại của công trình, giảm thiểu mọi hậu quả có thể phát sinh. Đánh giá phát hiện hư hỏng kết cấu dựa trên hai phương pháp chính là thí nghiệm phá hủy và thí nghiệm không phá hủy.
Phương pháp thí nghiệm phá hủy được hiểu là thực hiện kiểm tra chất lượng trực tiếp trên các mẫu thử cấu kiện theo nhiều tiêu chí khác nhau để tìm ra hư hỏng, điều này làm cho cấu kiện sau khi thí nghiệm sẽ bị phá hủy hoặc biến dạng. Ngược lại, phương pháp thí nghiệm không phá hủy sẽ không làm ảnh hưởng đáng kể cho cấu kiện. Phương pháp này có ưu điểm về tính linh hoạt và tiết kiệm chi phí nên ngày càng trở nên phổ biến. Cùng với việc phát triển của máy móc, các thiết bị hiện đại có thể giúp ta theo dõi ứng xử của kết cấu với độ chính xác vẫn rất cao mà không cần trực tiếp ở công trình.
Khi cần đánh giá một kết cấu, chỉ cần có dữ liệu thu được từ các cảm biến dao động về tần số, gia tốc, chuyển vị,. do đó có thể theo dõi để chẩn đoán kết cấu đang làm việc như thế nào trong điều kiện môi trường thực tế, giúp giải quyết nhanh chóng nếu phát sinh các tình huống bất lợi. Trong nghiên cứu này, dầm bê tông cốt thép là đối tượng nghiên cứu chẩn đoán kết cấu thông qua dữ liệu đường ảnh hưởng (ĐAH) của chuyển vị. Các chỉ số đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu này không chỉ tập trung vào những thay đổi trong đường ảnh hưởng chuyển vị mà còn từ các chỉ số này phát triển phương pháp cải tiến nhằm xác định chiều dài vùng nứt, đồng nghĩa với đánh giá mức độ hư hỏng.
Đầu tiên, các chỉ số chẩn đoán sử dụng các đường ảnh hưởng chuyển vị làm dữ liệu đầu vào được khảo sát trong kịch bản dầm có hư hỏng giả định giữa nhịp. Sau đó, vị trí cũng như mức độ được thay đổi để khảo sát sự hiệu quả của phương pháp trong việc chẩn đoán hư hỏng. Ngoài ra, bộ ba chỉ số A, B, C [1] và chỉ số K [2] cũng được tính toán để đánh giá độ chính xác của phương pháp chẩn đoán. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 1.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này đánh giá các chỉ số chẩn đoán hư hỏng cho kết cấu dầm sử dụng phương pháp đường ảnh hưởng của chuyển vị. Sau khi thu thập được dữ liệu ĐAH, các chỉ số đề xuất sẽ được phân tích và đánh giá sự xuất hiện và vị trí của hư hỏng. Ngoài ra, luận văn còn cải tiến các chỉ số để xác định mức độ hư hỏng của kết cấu. Nội dung nghiên cứu Bài nghiên cứu được thực hiện qua các nội dung cụ thể sau: 3 - Mô phỏng kết cấu dầm đơn giản chịu tải trọng di động bằng phần mềm SAP2000.
- Giả định các trường hợp hư hỏng của các mô hình SAP2000 bằng cách giảm độ cứng của một hoặc nhiều phần tử. - Áp dụng đường ảnh hưởng của chuyển vị của từng trường hợp làm dữ liệu đầu vào để chẩn đoán các đặc trưng hư hỏng dựa trên các chỉ số. - Sử dụng phần mềm ANSYS mô phỏng dầm bê tông cốt thép chịu tải trọng tĩnh, so sánh kết quả mô phỏng với kết quả thực nghiệm của Trần và cộng sự (2019) [3]. - Gia tải cho dầm bê tông cốt thép để tìm được tải gây nứt dầm, so sánh với kết quả với thí nghiệm của Trần và cộng sự (2019) [3].
- Sau đó, gia tải tại các cấp tải khác nhau mục đích tạo ra những hư hỏng khác nhau theo cách tăng tải đến giá trị mong muốn và giảm tải về 0. Tiếp tục giữ nguyên trạng thái dầm để tiếp tục khảo sát. - Tại mỗi cấp tải, sử dụng đường ảnh hưởng của chuyển vị cho từng trường hợp làm dữ liệu đầu vào để chẩn đoán các đặc trưng hư hỏng dựa trên các chỉ số. - Phân tích và đánh giá ưu nhược điểm các chỉ số.
- Cải tiến các chỉ số để đưa ra kết quả chẩn đoán chính xác hơn. - Đưa ra các kết luận và kiến nghị. Trong nghiên cứu này cấu kiện được mô phỏng là dầm đơn giản có gối tựa cách hai đầu dầm một khoảng bằng nhau. Hư hỏng trên dầm được khảo sát và giới hạn trong vùng giữa hai gối tựa.
Nguyên nhân là do vùng này dễ bị hư hỏng hơn so với các đoạn tự do ở hai đầu dầm. Đồng nghĩa, hư hỏng ở hai đoạn đầu dầm không được xét đến trong nghiên cứu này 1. Tính cần thiết và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu Kết cấu bê tông cốt thép là loại kết cấu phổ biến trong ngành xây dựng, xuất hiện ở hầu hết các công trình lớn nhỏ. Dầm bê tông cốt thép là cấu kiện quan trọng, đảm bảo độ cứng và ổn định của toàn bộ công trình.
Hiện tại, có rất nhiều nghiên cứu sử dụng đặc trưng động học của kết cấu để chẩn đoán sức khỏe kết cấu. Nhằm mục đích mở rộng cũng như nâng cao phạm vi nghiên cứu trong lĩnh vực này, phương pháp được đề xuất chẩn đoán dựa trên đặc trưng tĩnh học, cụ thể là chuyển vị. Sử dụng dữ liệu đường ảnh hưởng của chuyển vị để đánh giá trạng thái của kết cấu là một cách hiệu quả vì thao tác đơn giản, đặc biệt là chi phí thấp. Nghiên cứu này đề xuất phương pháp chẩn đoán hư hỏng thông qua đường ảnh hưởng của chuyển vị nhằm tập trung vào cấu kiện dầm bê tông cốt thép chịu tải trọng di động.
4 Phát triển nghiên cứu về dầm trong nhà kho chịu tải trọng di động là thiết thực bởi tầm quan trọng của chúng trong việc duy trì công năng của công trình. Phát hiện hư hỏng của dầm bê tông cốt thép giúp ngăn chặn thiệt hại, góp phần vô hiệu hóa những mối nguy hiểm tiềm tàng bởi sự phức tạp của công nghệ khi kỹ thuật xây dựng càng ngày càng phát triển. 5 Chương 2 TỔNG QUAN Chẩn đoán sức khỏe kết cấu (structural health monitoring – SHM) là một công cụ quan trọng để đảm bảo rằng kết cấu hoạt động hiệu quả trong vòng đời thiết kế và có thể vượt ra ngoài tuổi thọ thiết kế. Đã có nghiên cứu chỉ ra rằng chẩn đoán sức khỏe kết cấu được chú trọng từ nhiều năm trước và 20 năm gần đây số lượng nghiên cứu liên quan đã tăng lên đáng kể [4].
Tình hình nghiên cứu nước ngoài Hai nhóm đối tượng nghiên cứu chính của SHM là ứng xử động học và ứng xử tĩnh học. Về mặt nghiên cứu ứng xử động học, một số phương pháp chẩn đoán hư hỏng kết cấu dầm dựa trên các đặc trưng dao động đã được nghiên cứu và phát triển hiện nay bao gồm: Phương pháp dựa trên sự thay đổi của tần số (frequency change - based damage detection method), dạng dao động (modal assurance criterion), độ cong dạng dao động (mode shape curvature - based damage detection method), độ cứng và tần số (stiffness, frequency change - based damage detection method), năng lượng biến dạng (modal strain energy - based damage detection method),… Các ví dụ về nghiên cứu thông qua những phương pháp nêu trên như Adams và cộng sự [5] đã đánh giá tần số của dầm thông qua việc áp tải trọng động cho thí nghiệm ba điểm vào năm 1978. Một năm sau, Cawley và Adams [6] đã sử dụng tần số tự nhiên để dự đoán khuyết tật cho cấu kiện tấm nhôm phẳng. Năm 1991, Pandey và cộng sự [7] nghiên cứu về độ cong dạng dao động trong dầm công-xôn, kết quả cho thấy sự thay đổi độ cong dạng dao động tỷ lệ thuận với mức độ hư hỏng của kết cấu.
Stubbs và cộng sự [8] trình bày một phương pháp dựa trên việc giảm năng lượng biến dạng của dạng dao động (từ kết quả đo dạng dao động) giữa hai mô hình kết cấu có nhiều bậc tự do vào năm 1995. Nghiên cứu này đã được ứng dụng thành công trong việc chẩn đoán hư hỏng trên kết cấu dầm của công trình cầu ở bang New Mexico, Hoa Kỳ. Một năm sau, Stubbs và cộng sự [9] đã phát triển nghiên cứu khi xem xét tính khả thi của việc định vị hư hỏng bằng cách sử dụng kỹ thuật này khi không có các tham số dạng dao động cơ bản.