Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chủ trương đổi mới và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập trung quy mô lớn, đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật gắn liền với chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là định hướng xuyên suốt được đề ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp Việt Nam còn mang nặng tính phân tán, ruộng đất manh mún, mối quan hệ liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến và hộ nông dân đóng vai trò trung tâm nhằm phân tán rủi ro, bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến và nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn.
Tại xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa – một địa bàn thuần nông thuộc vùng bán sơn địa – toàn xã vào năm 2010 có 1.780 hộ với 7.235 nhân khẩu nhưng chỉ sở hữu 677,4 ha đất sản xuất nông nghiệp. Trong đó, diện tích đất canh tác 2 vụ lúa chiếm 328 ha nằm rải rác, manh mún, mang lại hiệu quả kinh tế rất thấp. Nhằm tìm kiếm hướng đi mới, năm 2010 xã Vân Sơn đã thử nghiệm chuyển đổi 25 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng mía nguyên liệu và bước đầu ghi nhận tín hiệu khả quan. Đến năm 2011, Vân Sơn trở thành xã duy nhất của huyện Triệu Sơn được Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn lựa chọn để đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu chuyên canh tập trung. Ngày 26/12/2011, Công ty Cổ phần Nông - Công nghiệp, Dịch vụ, Thương mại Vân Sơn (gọi tắt là Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn) chính thức được thành lập dưới sự phối hợp của Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn và Ủy ban nhân dân huyện Triệu Sơn.
Mô hình liên kết tại đây được thiết lập theo cơ chế: hộ nông dân cho Công ty thuê lại quyền sử dụng đất với thời hạn 20 năm, sau khi hết hạn hợp đồng đất đai được hoàn trả lại cho nông dân; Công ty chịu trách nhiệm đầu tư vốn và tổ chức sản xuất tập trung; người nông dân được ưu tiên tuyển dụng làm công nhân nông trường, hưởng tiền công lao động theo thỏa thuận; đồng thời hộ dân được chia 30% doanh thu bán mía cho công ty mẹ kể từ năm thứ tư trở đi, và Công ty trích 10% lợi nhuận để tái đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất tại địa phương. Nhằm phân tích tính quy luật, hiệu quả kinh tế - xã hội và những vấn đề tồn tại của phương thức tổ chức mới này, đề tài "Đánh giá hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn với nông dân tại xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa" được thực hiện.
Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá thực trạng hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn với nông dân xã Vân Sơn, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển hợp lý hình thức liên kết này trong thời gian tới. Cụ thể, đề tài thực hiện 3 mục tiêu:
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hình thức liên kết giữa công ty với nông dân trong sản xuất mía nguyên liệu.
- Đánh giá thực trạng hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn với nông dân tại xã Vân Sơn trong giai đoạn 2012 - 2014.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hợp lý hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công ty với nông dân tại xã Vân Sơn trong thời gian tới.
Nghiên cứu tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu trên địa bàn xã Vân Sơn thời gian qua diễn ra như thế nào?
- Lợi ích đem lại cho Công ty và nông dân khi tham gia vào liên kết là gì?
- Các vấn đề phát sinh trong liên kết giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn với hộ nông dân gồm những khía cạnh nào?
- Các giải pháp nào cần đề xuất nhằm phát triển hợp lý liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu ở xã trong thời gian tới?
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hình thức liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất mía nguyên liệu. Phạm vi nghiên cứu về không gian được giới hạn tại địa bàn xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa và Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp kéo dài từ năm 2012 đến năm 2014, kết hợp dữ liệu điều tra, khảo sát thực địa được triển khai trong năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý luận, đề tài tổng hợp khái niệm về người nông dân – những người lao động cư trú ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp, sinh sống chủ yếu bằng ruộng vườn và tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tác giả phân tích vị trí, vai trò và hạn chế của các chủ thể trong mối quan hệ liên kết: người nông dân thường hạn chế về trình độ học vấn, tâm lý e ngại, thiếu thông tin thị trường và dễ nảy sinh tư tưởng ham lợi trước mắt dẫn đến vi phạm cam kết; phía doanh nghiệp đôi khi bộc lộ sự thiếu ổn định trong chính sách thu mua, quy chế xử phạt chưa đủ sức răn đe; trong khi chính quyền cơ sở chưa phát huy trọn vẹn vai trò trung gian, trọng tài điều hòa lợi ích và giải quyết tranh chấp.
Khái niệm liên kết kinh tế được hệ thống hóa qua quan điểm của Từ điển ngôn ngữ học (1992), Từ điển thuật ngữ kinh tế học, Pearce (1999), Quyết định số 38-HĐBT ngày 10/04/1989 của Hội đồng Bộ trưởng, Trần Văn Hiếu (2005), Hồ Quế Hậu, Phan Xuân Dũng (2007) và GS.TSKH Vũ Huy Từ. Theo đó, liên kết kinh tế là sự phối hợp tự nguyện giữa các chủ thể độc lập nhằm bù đắp sự thiếu hụt nguồn lực, phân công sản xuất và bảo vệ lợi ích kinh tế trong khuôn khổ pháp lý. Hoạt động liên kết vận hành dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản:
- Đảm bảo sản xuất kinh doanh của các bên tham gia phát triển và nâng cao hiệu quả;
- Đảm bảo nguyên tắc tự nguyện và tự chịu trách nhiệm;
- Đảm bảo thống nhất hài hòa lợi ích kinh tế;
- Thực hiện trên cơ sở ràng buộc pháp lý thông qua hợp đồng kinh tế.
Đề tài dẫn chứng 2 phương thức vận động chính: liên kết dọc (theo dòng luân chuyển sản phẩm từ sản xuất, thu gom đến chế biến, tiêu thụ theo nghiên cứu của Lê Văn Lương, 2008) và liên kết ngang (hợp tác giữa các chủ thể cùng công đoạn nhằm tăng sức mạnh quy mô theo Phạm Thị Minh Nguyệt, 2006). Đồng thời, tác giả viện dẫn các mô hình tổ chức nông nghiệp theo hợp đồng quốc tế (Eaton và Shepherd, 2001), gồm:
- Mô hình tập trung (The centralized model);
- Mô hình trang trại hạt nhân (The nucleus estate model);
- Mô hình đa chủ thể (The multipartite model);
- Mô hình trung gian (The intermediary model);
- Mô hình phi chính thức.
Bên cạnh khung kinh tế, khóa luận làm rõ các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của cây mía: sinh trưởng thích hợp ở nhiệt độ 25°C – 26°C, tổng giờ nắng trên 1.200 giờ (tối ưu trên 2.000 giờ), tầng đất dày 0,7 – 0,8 m; định mức dinh dưỡng cho 100 tấn mía lấy đi từ đất 200 kg N, 85 kg P2O5 và 420 kg K2O qua các chu kỳ (nảy mầm 30–60 ngày, đẻ nhánh 25–35 ngày, vươn cao 7–9 tháng, chín công nghiệp và chín sinh lý 50–60 ngày); cùng chỉ số chất lượng độ đường CCS (Commercial Cane Sugar Formula). Về thực tiễn, đề tài nghiên cứu kinh nghiệm sản xuất mía theo hợp đồng và "sản nghiệp hóa nông nghiệp" tại Trung Quốc, kinh nghiệm vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn tại Brazil, chính sách bắt buộc ngân hàng thương mại dành 20% tiền gửi cho tín dụng nông thôn phục vụ hợp đồng nông sản tại Thái Lan; thực tiễn bao tiêu mía nguyên liệu tại Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn (Thanh Hóa), Công ty Cổ phần Mía đường Sơn Dương (Tuyên Quang), vùng mía Đông Trường Sơn (Gia Lai); cũng như các công trình nghiên cứu trước của Lã Hồng Phúc (2009) và Ngô Thị Thủy (2002).
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng các phương pháp:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu đất đai, dân số từ Ban Địa chính, Ban Thống kê xã Vân Sơn và báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn giai đoạn 2012 - 2014.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra trực tiếp các hộ nông dân trên địa bàn xã Vân Sơn (chia theo nhóm hộ tham gia liên kết cho thuê đất và nhóm hộ không tham gia liên kết trồng lúa hoặc trồng mía tự do) kết hợp phỏng vấn cán bộ quản lý công ty và chính quyền cơ sở năm 2015.
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, thống kê so sánh tuyệt đối và tương đối, phân tích chuỗi thời gian kết hợp hệ thống chỉ tiêu kinh tế (năng suất, sản lượng, chất lượng chữ lượng đường CCS, thu nhập bình quân/hộ/năm, tiền công lao động) và chỉ tiêu xã hội (giải quyết việc làm, tỷ lệ chấp hành hợp đồng).
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Trung ương VII Khóa X, sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ diện tích 328 ha đất trồng lúa manh mún sang chuyên canh mía tại xã Vân Sơn, sự ra đời của Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn vào cuối năm 2011; xác lập 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 4 câu hỏi định hướng, phạm vi không gian (xã Vân Sơn và Công ty), phạm vi thời gian (2012 - 2015) cùng đối tượng nghiên cứu của luận văn.
Phần II: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về nông dân, vai trò các chủ thể trong liên kết nông nghiệp, khái niệm và 4 nguyên tắc cốt lõi của liên kết kinh tế; các hình thức liên kết theo thời gian, phạm vi và 5 mô hình hợp đồng nông nghiệp phổ biến; phân tích các nhân tố chi phối quá trình liên kết (trình độ chủ thể, sự bảo đảm lợi ích, rủi ro tự nhiên - thị trường và chính sách Nhà nước). Đi sâu trình bày các đặc tính kinh - kỹ thuật của cây mía và chỉ số CCS; tổng thuật bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc, Brazil, Thái Lan và các mô hình liên kết mía đường tại Thanh Hóa, Tuyên Quang, Gia Lai; đồng thời nêu rõ điểm mới của đề tài khi tiếp cận hình thức liên kết bằng cơ chế cho thuê quyền sử dụng đất.
Phần III: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Khái quát vị trí địa lý xã Vân Sơn nằm ở phía Tây Nam huyện Triệu Sơn, địa hình bán sơn địa thấp dần từ dãy núi Nưa về phía Đông có kênh nhà Lê chảy qua. Điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình 25°C, lượng mưa 1.700 – 1.900 mm, độ ẩm 86,5%, chịu tác động của gió phơn Tây Nam và gió mùa Đông Bắc.
Tác giả phản ánh hiện trạng kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn 2012 - 2014 qua các số liệu thống kê:
- Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã năm 2014 là 1.553,4 ha; trong đó đất nông nghiệp là 845,2 ha (chiếm 54,4%), đất phi nông nghiệp 528,2 ha (chiếm 34,0%), đất chưa sử dụng 180,0 ha (chiếm 11,6%). Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp (681,6 ha năm 2014), diện tích đất nông dân cho Công ty thuê ổn định ở mức 69,8 ha (chiếm 10,2%), đất trồng mía của hộ gia đình đạt 36 ha (tăng 3,9%/năm).
- Toàn xã năm 2014 có 8.007 nhân khẩu với 1.807 hộ phân bố tại 11 thôn, bình quân 4,4 nhân khẩu/hộ. Tổng số lao động trong độ tuổi là 4.200 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 90% (tương đương hơn 3.700 người), lao động công nghiệp - dịch vụ - thương mại chỉ chiếm 10% (420 người), dẫn đến tình trạng dư thừa lao động nông nhàn nhưng lại khan hiếm lao động thời vụ thu hoạch do trùng mùa gặt lúa hoặc đi làm ăn xa.
- Cơ sở hạ tầng năm 2014 gồm 37 km đường giao thông (10 km đường nhựa liên xã), 4,5 km đường điện cao thế, 7,8 km hạ thế, 4 km kênh chính ngoài đồng và 5 km kênh nội đồng; xã chuẩn bị hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới vào tháng 6/2015. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12,1%/năm, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 17,3 triệu đồng (2012) lên 19,7 triệu đồng (2014). Chương này cũng hoàn thiện quy trình thu thập số liệu sơ cấp và khung chỉ tiêu đánh giá.
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương IV đi sâu phân tích thực trạng mối quan hệ liên kết giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn và nông dân xã Vân Sơn:
- Phương thức liên kết: Thiết lập thông qua hợp đồng thuê quyền sử dụng đất có thời hạn 20 năm, chia làm 2 giai đoạn. Doanh nghiệp chi trả tiền thuê đất trả trước 10 năm một lần. Đến năm 2014, Công ty đã thuê 69,8 ha đất của 490 hộ dân trên toàn xã.
- Kết quả đối với Công ty: Diện tích tập trung tạo điều kiện đưa cơ giới hóa vào khâu làm đất, chủ động lịch thời vụ và quy trình kỹ thuật. Năm 2014, năng suất mía vùng nguyên liệu đạt 90 tấn/ha (cao hơn đáng kể so với ruộng mía tự canh tác của nông dân), tổng sản lượng mía thu hoạch đạt 6.282 tấn, chữ lượng đường đạt 10 CCS.
- Kết quả đối với hộ nông dân: Mô hình giải quyết việc làm cho 220 lao động địa phương làm công nhân nông trường với mức thu nhập từ 2,0 – 2,5 triệu đồng/tháng. Thu nhập bình quân của nhóm hộ tham gia liên kết đạt 32.462,6 nghìn đồng/hộ/năm, cao gấp 1,16 lần so với hộ tự trồng mía và gấp 1,22 lần so với hộ trồng lúa. Khoản tiền thuê đất trả trước 10 năm được các hộ sử dụng để chuyển đổi ngành nghề kinh doanh, trả nợ hoặc gửi ngân hàng lấy lãi.
- Các vấn đề phát sinh và tính bền vững: Về phía người dân, không xảy ra tình trạng hộ dân tự ý phá vỡ hợp đồng, song còn tồn tại các vi phạm nhỏ về ranh giới, bảo vệ ruộng mía và chỉ bị nhắc nhở; về phía Công ty, năm 2014 đã ghi nhận 2 trường hợp công ty chủ động phá vỡ hợp đồng. Mặt khác, trình độ học vấn của người dân còn hạn chế làm giảm khả năng tiếp thu quy trình kỹ thuật; công ty chịu nhiều áp lực về rủi ro thời tiết, nguồn vốn vay thương mại khó khăn và tình trạng thiếu hụt nhân công thu hoạch mía đúng kỳ hạn chín công nghiệp.
- Nhóm giải pháp đề xuất: Tăng cường liên kết "4 nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông); mở rộng diện tích liên kết mía nguyên liệu hợp lý; hoàn thiện tính pháp lý của hợp đồng thuê đất; thực hiện tốt cam kết chia 30% doanh thu sau năm thứ tư; và tổ chức đào tạo kỹ năng cho lao động nông nghiệp.
Phần V: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết toàn bộ kết quả phân tích: mô hình liên kết cho thuê quyền sử dụng đất là hướng đi phù hợp giúp khắc phục căn bản tình trạng manh mún ruộng đất, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp chế biến và hộ nông dân. Tác giả kiến nghị chính quyền xã tăng cường quản lý quy hoạch đất đai, đóng vai trò trọng tài pháp lý chặt chẽ; đề nghị Công ty ổn định chính sách tuyển dụng, chi trả tiền công đúng hạn, công khai minh bạch tỷ lệ phân chia doanh thu và lợi nhuận xây dựng hạ tầng; đồng thời khuyến nghị bà con nông dân nâng cao ý thức chấp hành hợp đồng kinh tế đã ký kết.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã lượng hóa chi tiết kết quả kinh tế - kỹ thuật và xã hội của mô hình liên kết cho thuê đất sản xuất mía nguyên liệu tại xã Vân Sơn qua chuỗi số liệu từ năm 2012 đến năm 2014:
| Chỉ tiêu |
Đơn vị tính |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
| Diện tích đất nông dân cho Công ty thuê |
ha |
68,0 |
70,0 |
69,8 |
| Tỷ trọng đất cho thuê trong đất sản xuất NN |
% |
10,0 |
10,4 |
10,2 |
| Số hộ dân tham gia ký hợp đồng cho thuê đất |
Hộ |
- |
- |
490 |
| Sản lượng mía vùng liên kết của Công ty |
Tấn |
- |
- |
6.282 |
| Năng suất mía vùng liên kết của Công ty |
Tấn/ha |
- |
- |
90,0 |
| Chữ lượng đường bình quân (CCS) |
CCS |
- |
- |
10,0 |
| Số lao động địa phương làm việc tại Công ty |
Lao động |
- |
- |
220 |
| Mức lương bình quân lao động làm việc tại Công ty |
Triệu đồng/tháng |
- |
- |
2,0 – 2,5 |
Hiệu quả kinh tế đối với hộ nông dân được tác giả so sánh trực tiếp giữa các nhóm hộ sản xuất trên địa bàn:
| Nhóm hộ điều tra |
Thu nhập bình quân (nghìn đồng/hộ/năm) |
So sánh tương đối với hộ liên kết |
| Hộ tham gia liên kết cho Công ty thuê đất |
32.462,6 |
1,00 lần (chuẩn so sánh) |
| Hộ không tham gia liên kết, tự trồng mía |
27.985,0 |
Kém 1,16 lần |
| Hộ không tham gia liên kết, chuyên trồng lúa |
26.608,7 |
Kém 1,22 lần |
(Nguồn: Trích xuất từ số liệu tóm tắt và Chương IV của khóa luận)
Về mặt giải pháp, đề tài đưa ra các kiến nghị cụ thể:
- Kiên trì mở rộng quy mô hình thức cho thuê đất gắn với tích tụ ruộng đất nhằm hình thành cánh đồng mẫu lớn áp dụng cơ giới hóa;
- Tăng cường cơ chế phối hợp "4 nhà" (Nhà nước định hướng quy hoạch và bảo trợ pháp lý; Nhà khoa học cung cấp giống mới và chuyển giao quy trình thâm canh; Doanh nghiệp đầu tư máy móc, quản lý sản xuất, bao tiêu sản phẩm; Nhà nông cung cấp tư liệu sản xuất và lao động);
- Doanh nghiệp cần chuẩn bị phương án tài chính để thực thi cam kết chia 30% doanh thu bán mía cho công ty mẹ từ năm thứ 4 trở đi và trích 10% lợi nhuận xây dựng đường giao thông, thủy lợi nội đồng;
- Nâng cao chế tài xử lý vi phạm hợp đồng, không chỉ áp dụng phạt tiền mà cần có sự can thiệp của chính quyền cấp xã;
- Tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, nâng cao tay nghề và ý thức kỷ luật lao động cho nông dân địa phương.
Về đóng góp học thuật và thực tiễn do tác giả tự nêu: Đề tài là công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tiếp cận mô hình liên kết kinh tế theo phương thức "hộ nông dân cho doanh nghiệp thuê lại quyền sử dụng đất dài hạn để phát triển vùng nguyên liệu tập trung" trong ngành mía đường, thay vì các hình thức hợp đồng bao tiêu sản phẩm hay ứng trước vật tư truyền thống đã được nghiên cứu trước đó.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số giới hạn nghiên cứu được chỉ ra dựa trên phạm vi và bối cảnh thực tế:
- Hạn chế về chuỗi dữ liệu: Dữ liệu hạch toán thực tế của Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn và địa bàn xã mới được phản ánh qua 3 năm đầu triển khai (2012 - 2014), trong khi thời hạn hợp đồng thuê đất kéo dài tới 20 năm.
- Hạn chế về đánh giá cơ chế phân chia lợi nhuận: Tại thời điểm nghiên cứu (năm 2015), mô hình mới hoạt động được hơn 3 năm nên chưa có dữ liệu kiểm chứng thực tế việc thực thi điều khoản chia 30% doanh thu bán mía cho hộ nông dân (chỉ bắt đầu tính từ năm thứ tư) và việc trích lập 10% lợi nhuận xây dựng hạ tầng.
- Phạm vi khảo sát hẹp: Khảo sát điều tra hộ mới chỉ thực hiện trên địa bàn một xã duy nhất (Vân Sơn), chưa có sự so sánh đối chứng với các mô hình liên kết tích tụ đất đai tại các huyện khác trong vùng nguyên liệu Mía đường Lam Sơn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động kinh tế dài hạn của mô hình sau chu kỳ 5 năm và 10 năm sản xuất; kiểm toán chi tiết cơ chế chia sẻ 30% doanh thu và tính minh bạch tài chính của doanh nghiệp; đồng thời mở rộng nghiên cứu mô hình tích tụ đất đai này trên quy mô liên xã, liên huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn dữ liệu thực chứng hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên cao học các ngành Kinh tế, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế, Phát triển nông thôn và Quản lý đất đai tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu đánh giá liên kết chuỗi giá trị và phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu điều tra nông hộ.
- Cán bộ quản lý nhà nước và chính quyền địa phương tham khảo khung cơ chế quản lý tích tụ ruộng đất nông nghiệp, quy trình giải quyết bài toán chuyển dịch đất lúa kém hiệu quả sang cây công nghiệp và kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động dôi dư tại chỗ.
- Các doanh nghiệp chế biến nông sản (đặc biệt là ngành mía đường, sắn, cao su) tham khảo nội dung chi tiết của bản hợp đồng thuê quyền sử dụng đất 20 năm, các điều khoản ràng buộc quyền lợi - nghĩa vụ và phương thức xử lý rủi ro lao động thời vụ.
Phần đáng tham khảo nhất trong luận văn là hệ thống chỉ tiêu phân tích so sánh thu nhập giữa các nhóm hộ tại Chương IV và cách thức phân tích 5 mô hình liên kết hợp đồng nông nghiệp tại Chương II.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ chế vận hành của hình thức liên kết sản xuất mía tại xã Vân Sơn có điểm gì khác biệt so với mô hình bao tiêu truyền thống?
Thay vì nông dân tự canh tác trên đất của mình rồi bán sản phẩm cho nhà máy theo hợp đồng ứng trước vật tư, tại xã Vân Sơn, nông dân ký hợp đồng cho Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn thuê lại quyền sử dụng đất trong thời hạn 20 năm (nhận tiền thuê đất trả trước 10 năm). Doanh nghiệp trực tiếp bỏ vốn, cơ giới hóa đồng ruộng và quản lý sản xuất. Nông dân được thuê lại làm công nhân hưởng lương nhật, được bảo toàn quyền giám sát đất và được cam kết chia 30% doanh thu bán mía từ năm thứ tư cùng 10% lợi nhuận xây dựng hạ tầng.
2. Năm 2014, quy mô liên kết cho thuê đất tại xã Vân Sơn đạt được những số liệu cụ thể nào?
Năm 2014, Công ty đã ký hợp đồng thuê đất với 490 hộ dân trong toàn xã, đạt tổng diện tích 69,8 ha (chiếm 10,2% diện tích đất sản xuất nông nghiệp của xã Vân Sơn). Mô hình đã thu hoạch 6.282 tấn mía với năng suất bình quân 90 tấn/ha, độ đường đạt 10 CCS và giải quyết việc làm cho 220 lao động địa phương.
3. Thu nhập của hộ nông dân tham gia liên kết chênh lệch như thế nào so với các hộ không tham gia?
Theo kết quả điều tra của đề tài, thu nhập bình quân của hộ tham gia liên kết đạt 32.462,6 nghìn đồng/hộ/năm. Mức thu nhập này cao gấp 1,16 lần so với nhóm hộ không tham gia liên kết tự trồng mía (đạt 27.985,0 nghìn đồng/hộ/năm) và cao gấp 1,22 lần so với nhóm hộ chuyên trồng lúa (đạt 26.608,7 nghìn đồng/hộ/năm).
4. Tính bền vững và thực trạng vi phạm hợp đồng giữa Công ty và hộ dân diễn ra như thế nào?
Trong giai đoạn 2012 - 2014, không có bất kỳ hộ nông dân nào tự ý đơn phương phá vỡ hợp đồng thuê đất, các vi phạm nhỏ chỉ dừng ở mức nhắc nhở. Ngược lại, về phía doanh nghiệp, vào năm 2014 đã ghi nhận 2 trường hợp Công ty chủ động phá vỡ hợp đồng thuê đất với người dân.
5. Những rủi ro và khó khăn lớn nhất mà mối liên kết này gặp phải là gì?
Các rủi ro chính gồm: ý thức và trình độ học vấn của người dân còn hạn chế dẫn đến việc tiếp thu kỹ thuật và bảo vệ ruộng mía chưa cao; hiện tượng thiếu hụt lao động thời vụ nghiêm trọng trong giai đoạn thu hoạch mía do trùng lịch gặt lúa hoặc lao động trẻ di cư; doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng; và các rủi ro thiên tai, thời tiết bất thuận ảnh hưởng đến năng suất mía cây.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thu Hằng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và cung cấp minh chứng thực tiễn rõ nét về mô hình doanh nghiệp thuê quyền sử dụng đất của nông dân để phát triển mía nguyên liệu tại xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu khẳng định mô hình đã giải quyết hiệu quả bài toán đất đai manh mún, mang lại năng suất mía 90 tấn/ha, tạo việc làm cho 220 lao động và nâng mức thu nhập của hộ liên kết lên 32.462,6 nghìn đồng/hộ/năm. Các hạn chế phát hiện về thực thi hợp đồng, thiếu hụt lao động thời vụ và năng lực tài chính là những căn cứ khoa học quan trọng giúp địa phương và doanh nghiệp hoàn thiện phương thức liên kết "4 nhà" trong thời gian tiếp theo.