MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài. Liên kết kinh tế là sự hợp tác cùng phát triển của hai hay nhiều bên không kể quy mô hay loại hình sở hữu. Mối quan hệ liên kết chính là bảo đảm về lợi ích của các bên tham gia liên kết kinh tế. Liên kết giúp cho các bên tham gia giảm thiểu được rủi ro trong sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo hiệu quả trong sản xuất, thu nhập của nhà nông, liên kết giúp cho doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro, đảm bảo chất lượng sản phẩm và nguồn nguyên liệu ổn định.
Để tránh được rủi ro nhiều nhà sản xuất phân tán sự rủi ro bằng cánh mời gọi các chủ thể khác tham gia thực hiện và triển khai dụ án. Thậm chí mỗi doanh nghiệp phải đảm bảo một phần công việc tùy theo năng lực của các chủ thể. Như vậy mỗi chủ thể tham gia đều chịu một phần rủi ro nếu có. Khóa nghiệp, độiluận tốt nghiệp trên cơ sở bìnhmôi trường Thực hiện Nghị quyết TW 7: “ Tăng cường sự liên kết giữa các doanh ngũ trí thức nông dân đẳng cùng có lợi; có chính sách khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp, tri thức về nông thôn.
Đóng góp tích cực và có hiệu quả cho quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo đường lối của Đảng” việc vận dụng các hình thức liên kết đã triển khai với mục tiêu phát triển bền vững giữa các bên tham gia. Liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa doanh nghiệp và nông dân, một bộ phận của liên kết trong nền kinh tế nói chung, một trong những thể chế thực hiện mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất mía nguyên liệu, đồng thời là một bộ phận của quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp. Việc liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giúp cho doanh nghiệp và nông dân cùng tồn tại và hỗ trợ nhau, thúc đẩy các hình thức chuyên môn hóa, liên hợp hóa và tập trung hóa, xã hội hóa sản xuất tiến bộ, phù hợp với xu thế đi lên sản xuất quy mô lớn, thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn và toàn bộ nền kinh tế. Do đó việc hình thành hình thức liên kết trong sản 1 xuất mía nguyên liệu giữa doanh nghiệp và nông dân xã Vân Sơn là điều có lợi và tất yếu khách quan.
Vân Sơn là xã thuần nông vùng có 1780 hộ/ 7.235 nhân khẩu nhưng chỉ có 677,4 ha đất sản xuất nông nghiệp trong đó, đất 2 vụ lúa là 328 ha nằm rãi rác, manh mún, năng suất thấp. Năm 2010 hưởng ứng phát triển toàn tỉnh về xây dựng nông thôn mới, xã Vân Sơn tiến hành thử nghiệm chuyển đổi 25 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng mía và đã đạt được kết quả tốt, xã sẽ mở rộng quy mô sản xuất mía để nâng cao thu nhập của người dân so với việc nông dân trồng lúa. Năm 2011, Vân Sơn là xã duy nhất của huyện Triệu Sơn được công ty mía đường Lam Sơn chọn để đầu tư trở thành vùng nguyên liệu chuyên canh, hướng đi mới được mở ra. Ngày 26-12-2011, tại xã Vân Sơn (Triệu Sơn), Công ty CP Mía đường Lam Sơn phối hợp với UBND huyện Triệu Sơn tổ chức lễ công bố thành lập Công ty CP Nông - Công nghiệp, dịch vụ, thương mại Vân Khóa luận tốtđất lạinghiệp thuộc về nông dân.môi trường Sơn.
Theo cách này người nông dân góp cho Công ty thuê đất với thời hạn 20 năm, hết thời hạn này thì Công ty bỏ vốn hàng năm tổ chức sản xuất, người nông dân được Công ty thuê làm lao động và được trả tiền theo công nhận, mức tiền được thỏa thuận giữa hai bên. Nông dân được chia 30% số tiền từ doanh thu bán mía cho Công ty mẹ kể từ năm thứ 4 trở đi. Công ty dành 10% lợi nhuận để xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất(UBND xã Vân Sơn,2012). Hình thức này đã tạo ra thuận lợi: Công ty có vùng nguyên liệu mía ổn định, đảm bảo chất lượng, có điều kiện để xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy cơ giới hóa và áp dụng tiến bộ kỹ thuật, người nông dân vẫn có việc làm, thu nhập ổn định, và đặc biệt họ vẫn có quyền giám sát phần đất của mình.
Khi hết thời hạn cho thuê đất, nông dân được lấy lại đất của mình, thu nhập của họ vì thế cũng tăng lên. Cũng từ đây, toàn bộ số lao động dôi dư của địa phương được thu hút, tạo việc làm với mức lương bình quân từ 2 – 2,5 triệu đồng/tháng. Thành công của mối liên kết này cho thấy có sự hợp tác và liên kết chặt chẽ giữa doanh 2 nghiệp và nông dân. Như vậy thực tế của việc liên kết sản xuât mía nguyên liệu giữa Công ty với nông dân có lợi ích về kinh tế và xã hội của nông dân khi liên kết như thế nào và lợi ích đối với Công ty ? Các vấn đề phát sinh trong quá trình liên kết giữa Công ty với nông dân? Tính bền vững của liên kết? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hình thức liên kết? Có những giải pháp nào hoàn thiện và phát triển hợp lý hình thức liên kết? Để góp phần giải quyết câu hỏi trên, em nghiên cứu đề tài:" Đánh giá hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn với nông dân tại Xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa".
Mục tiêu nghiên cứu. Mục tiêu chung. Đánh giá thực trạng hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn với nông dân tại Xã Vân Sơn-Triệu Khóa luận tốt liệu nghiệp môi trường Sơn-Thanh Hóa. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp phát triển hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên tại xã Vân Sơn-Triệu Sơn-Thanh Hóa.
Mục tiêu cụ thể. - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hình thức liên kết giữa Công ty với nông dân trong sản xuất mía nguyên liệu. - Đánh giá thực trạng hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công ty với nông dân tại Xã Vân Sơn-Triệu Sơn-Thanh Hóa trong thời gian qua. - Đề xuất các giải nhằm phát triển hợp lý hình thức liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công ty với nông dân tại xã Vân Sơn-Triệu Sơn- Thanh Hóa trong thời gian sắp tới.3 Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn với nông dân xã Vân Sơn thời gian tới: 3 1) Thực trạng liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu trên địa bàn xã thời gian qua diễn ra như thế nào? 2) Lợi ích đem lại cho Công ty và nông dân khi tham gia vào liên kết? 3) Các vấn đề trong liên kết giữa Công ty CP NCN DVTM Vân Sơn với nông dân? 4) Các giải pháp nào cần đề xuất nhằm phát triển hợp lý liên kết trong sản xuất mía nguyên liệu ở xã trong thời gian tới? 1.
Đối tượng & phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan hình thức liên kết giữa Công ty với nông dân trong sản xuất mía nguyên liệu.2 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung : Đánh giá hình thức liên kết trong sản xuất Khóa luận gian qua. tốt Từ đó đềnghiệp xuất các giải phápmôi trường mía nguyên liệu giữa Công ty với nông dân. Thực trạng của hình thức liên kết đó trong thời thúc đẩy liên kết mía nguyên liệu hơn trong thời gian tới. - Phạm vị về không gian: Tại Xã Vân Sơn- Triệu Sơn- Thanh Hóa và Công ty cổ phần Nông Công nghiệp, dịch vụ, thương mại Vân Sơn.
- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu một số nội dung trong thời gian từ năm 2012-2014, tập trung nghiên cứu khảo sát năm 2015. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.1 Cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm về Nông dân. Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn tham gia sản xuất nông nghiệp.
Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kỳ lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất, họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.2 Vai trò của các tác nhân trong liên kết giữa Công ty và nông dân * Người sản xuất Đối với nhà nông, bộc lộ rõ nhất là sự hạn chế về trình độ học vấn, tâm lý e ngại khi tiếp xúc với các nhà khác. Đa số nông dân Việt Nam vẫn chưa gạt bỏ Khóa luận tốt nghiệp môi trường được, tư tưởng ham lợi trước mắt và không tính toán được chiến lược âu dài, dễ vi phạm hợp đồng trong quá trình liên kết, là người cung cấp số lượng và chất lượng sản phẩm ra thị trường nên sự hạn chế về thông tin thị trường làm cho họ không chủ động trong các mối liên kết. * Các yếu tố từ Doanh nghiệp Các cơ sở chế biến thu mua sản phẩm nông sản ổn định nhưng vẫn còn tình trạng cơ sở chế biến ngừng mua hoặc giảm giá lại không thông báo cho nông dân, trong khi mua còn gây khó dễ cho nông dân….nhất là vào thời điểm chính vụ nông sản.
Chế tài mà công ty đưa ra để xử phạt các hộ phá vỡ hợp đồng có hiệu lực chưa cao, mới chỉ dừng lại phạt tiền nên tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn còn xảy ra nhất là khi thời vụ nguyên liệu khan hiếm. Sự chủ động phối hợp liên kết phục vụ cho sản xuất, quy hoạch vùng nguyên liệu của các cơ sở chế biến với cấp chính quyền địa phương với các hộ nông dân chưa cao. 5 *Các yếu tố nhà nước và yếu tố khác Tác động của chính quyền địa phương ít ảnh hưởng, sau đó vấn đề sản xuất, thu mua các tình trạng tranh chấp xảy ra chính quyền có vai trò trọng tài để giải quyết Vai trò, chức năng về trung gian, cầu nối của chính quyền các cấp còn hạn chế do chính sách và do bản thân chính quyền( nhất là chính quyền các cấp cơ sở) đã không phát huy và làm tròn trách nhiệm là trọng tài để giải quyết các vấn đề ảnh hưởng đến liên kết. Chính quyền cơ sở gần như thả nổi để cơ sở chế biến và hộ sản xuất thỏa thuận với nhau trong hợp đồng liên kết.