MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Tây Ninh là một trong những cửa ngõ giao lưu quốc tế quan trọng giữa Việt Nam (VN) với các nước láng giềng Campuchia, Thái Lan… Tây Ninh cũng là tỉnh có vị trí quan trọng trong mối giao lưu trao đổi hàng hoá giữa các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có 5 khu công nghiệp (KCN) đang đi vào hoạt động và 2 khu kinh tế (KKT) cửa khẩu.[1] Với chủ trương lấy công nghiệp làm khâu đột phá để phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững, trong những năm qua, các ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng. Cơ cấu kinh tế công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự chuyển biến tích cực, phát huy hiệu quả sử dụng các nguồn lực để nâng cao chất lượng tăng trưởng và gia tăng năng lực cạnh tranh của ngành; cơ cấu kinh tế nội ngành cũng chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tăng trưởng của ngành công nghiệp Tây Ninh có sự đóng góp rất lớn của công nghiệp chế biến, chế tạo dựa trên lợi thế nguồn nguyên liệu tại chỗ (mía, mì, cao su, khoáng sản).[2] Khu công nghiệp Phước Đông được hình thành và đi vào hoạt động từ năm 2008.
Hiện nay, KCN đang được các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư xây dựng, lấp đầy nhanh chóng trong các lĩnh vực: dệt nhuộm, gia công cơ khí, sản xuất lốp xe, xe đạp, may mặc, giày da… Trong đó, dệt nhuộm là ngành nghề chiếm tỷ trọng lớn nhất với 5/23 nhà máy đang hoạt động và cũng là nhóm ngành phát sinh nước thải (NT) nhiều nhất. Các ngành nghề khác còn lại thuộc nhóm ngành gia công như cơ khí, may mặc, giày da, sản xuất lốp xe, xe đạp,… khi hoạt động sẽ phát sinh nước thải với lưu lượng lớn nhỏ khác nhau tùy theo quy mô công ty, được xử lý sơ bộ trước khi thu gom về các Nhà máy XLNT tập trung của KCN để xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả ra nguồn tiếp nhận. [3] 1 Hiện nay tổng lưu lượng xả thải của Khu công nghiệp Phước Đông khoảng 41.000 m3/ngày và được chia ra làm 3 nhóm: nước thải dệt nhuộm, nước thải sản xuất đa ngành được xử lý đạt tiêu chuẩn đấu nối của Khu công nghiệp và nước thải sinh hoạt được xử lý sơ bộ bằng bể tự hoại. Với lưu lượng phát sinh này, nếu không được xử lý và quản lý tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm.
Do đó, việc khảo sát hiện trạng các hệ thống xử lý nước thải để đánh giá hiệu quả xử lý cũng như dự báo mức độ đáp ứng của các nhóm nhà máy xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Phước Đông, từ đó đề xuất được các giải pháp quản lý hiệu quả trong bối cảnh hiện nay là vô cùng cần thiết. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, thì việc thực hiện đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả và mức độ đáp ứng của các nhóm nhà máy xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Phước Đông tỉnh Tây Ninh và đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả” đáp ứng được nhu cầu trong bối cảnh hiện nay. 2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả và mức độ đáp ứng của các nhóm nhà máy xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Phước Đông, tỉnh Tây Ninh. Mục tiêu cụ thể: Đánh giá hiện trạng chất lượng và hiệu quả xử lý của các nhóm nhà máy xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Phước Đông từ năm 2018 – 2020 đồng thời đánh giá hiện trạng công suất và dự báo mức độ đáp ứng của các nhóm nhà máy xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Phước Đông từ năm 2021 – 2026.
Từ đó, đề xuất các giải pháp quản lý quá trình xử lý nước thải hiệu quả. 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống xử lý nước thải của các nhà máy sản xuất đầu tư tại Khu công nghiệp Phước Đông. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu là tại Khu công nghiệp Phước Đông, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. 2 4 Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Khảo sát hiện trạng chất lượng và hiệu quả xử lý của các nhóm nhà máy xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Phước Đông từ năm 2018 – 2020.
Nội dung 2: Đánh giá hiện trạng công suất và dự báo mức độ đáp ứng của các nhóm nhà máy xử lý nước thải từ năm 2022 – 2026. Nội dung 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình xử lý nước thải của các nhóm nhà máy. 5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Ý nghĩa khoa học: Cung cấp số liệu về hệ thống xử lý nước thải, chất lượng nước thải tại các nhóm nhà máy cũng như hiện trạng xả thải tại KCN Phước Đông hiện nay, hỗ trợ công tác quản lý môi trường tại KCN Phước Đông. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để phục vụ công tác quản lý môi trường cho tỉnh Tây Ninh nói chung và Khu công nghiệp Phước Đông nói riêng.
Từ đó, giúp nhận dạng hiệu quả xử lý của các nhóm nhà máy xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Phước Đông. Đồng thời, dự báo diễn biến chất lượng nước thải xả thải ra môi trường của Khu công nghiệp Phước Đông nhằm làm cơ sở để các cơ quan quản lý môi trường có giải pháp quản lý, phòng ngừa thích hợp. 3 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 1.1 Giới thiệu về tỉnh Tây Ninh Tỉnh Tây Ninh thuộc miền Đông Nam bộ, tọa độ từ 10°57’08’’ đến 11°46’36’’ vĩ độ Bắc và từ 105°48’43” đến 106°22’48’’ kinh độ Đông. Phía Tây và Bắc giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 240 km có 2 cửa khẩu Quốc tế (Mộc Bài, Xa Mát), 4 cửa khẩu chính, 10 cửa khẩu phụ.
Phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước. Phía Nam giáp Thành phố (TP) Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Diện tích hành chính của tỉnh Tây Ninh là 4.035,45 km2 , chiếm 1,21% diện tích tự nhiên của cả nước và chiếm 17,1% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ. Toàn tỉnh hiện có có 09 đơn vị hành chính bao gồm: TP Tây Ninh và 8 huyện: huyện Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu, Châu Thành, Hoà Thành, Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng.
Tây Ninh được xem là một trong những tỉnh giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là tỉnh đầu mối, cửa ngõ giao thông về đường bộ quan trọng vào Campuchia và các nước Asian, có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng của quốc gia và là đầu mối giao thương, trung chuyển hàng hóa – dịch vụ – thương mại – du lịch của các nước tiểu vùng sông Mê Kông vì có vị trí địa lý nằm trong trục không gian phát triển chính của vùng: Trục dọc có tuyến cao tốc đường Hồ Chí Minh (Quốc lộ 14 – tuyến N2) đi qua, trục ngang có tuyến đường Xuyên Á (TP Hồ Chí Minh – cửa khẩu Mộc Bài) và Quốc lộ 22 B (Gò Dầu – cửa khẩu Xa Mát).1 Sơ đồ vị trí địa lý tỉnh Tây Ninh[5] 5 Gò Dầu là một huyện phía Nam tỉnh Tây Ninh, Đông Bắc giáp huyện Dương Minh Châu, Tây Bắc giáp huyện Hoà Thành và huyện Châu Thành, Tây Nam giáp với huyện Bến Cầu, có sông Vàm Cỏ Đông ngăn cách với huyện Bến Cầu, Nam và Đông Nam giáp huyện Trảng Bàng. Huyện Gò Dầu có đường xuyên Á (Quốc lộ 22A) và Quốc lộ 22B đi qua, trung tâm thị trấn Gò Dầu cách TP Hồ Chí Minh 63 km, cách cửa khẩu Mộc Bài 12 km, cách thị xã Tây Ninh 37 km, tổng diện tích đất tự nhiên là 25. Gò Dầu có vị trí hết sức quan trọng về kinh tế và quốc phòng, cầu xi măng trên sông Vàm Cỏ Đông đi sang tỉnh Soài Riêng và Phnompênh, nông trường trồng cao su.2 Giới thiệu về Khu công nghiệp Phước Đông KCN Phước Đông được hình thành và đi vào hoạt động từ năm 2008, đến nay đã thu hút được 30 nhà đầu tư với tổng diện tích đất công nghiệp cho thuê là 731,81 ha – đạt được 99,16 % diện tích đất công nghiệp cho thuê giai đoạn 1 (738 ha), chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Đầu tư Sài Gòn VRG.[7] Trong thời gian tới, các doanh nghiệp đang xây dựng nhà xưởng tại giai đoạn 1 sẽ đi vào giai đoạn hoạt động đồng thời KCN Phước Đông đang đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giai đoạn 2 nhằm thu hút các nhà đầu tư mới. KCN Phước Đông nằm trên địa bàn 5 xã thuộc 2 huyện của tỉnh Tây Ninh: xã Phước Đông và xã Bàu Đồn thuộc huyện Gò Dầu; xã Đôn Thuận, xã Gia Lộc và xã Lộc Hưng thuộc huyện Trảng Bàng.
KCN nằm gần sông Sài Gòn, có 02 khu vực tiếp giáp với đường ĐT782 nối ra đường Xuyên Á, ĐT784 đi thị xã và ĐT789 ven sông Sài Gòn về huyện Củ Chi; Cách thị trấn Gò Dầu khoảng 20 km; cách cửa khẩu Mộc Bài khoảng 30 km; cách trung tâm TP Hồ Chí Minh khoảng 50 km. Theo ranh cấp đất, KCN có dạng hình chữ H, là tổng hợp dự án Phước Đông phía Nam và dự án Bời Lời phía Bắc kết nối bởi hành lang rộng 800m, dài 3.250m, mở ra đường tỉnh ĐT. Khu Phước Đông phía Nam có ranh giới tứ cận như sau: Phía Đông Bắc giáp kênh Xáng, phía Tây Bắc giáp kênh N14, phía Tây Nam giáp đất dân cư và đường ĐT782, phía Đông Nam giáp kênh N18. Khu Bời Lời phía Bắc có ranh giới tứ cận như sau: Phía Bắc giáp suối Cầu Ngang và đường ĐT789 chạy dọc ven bờ Tây sông 6 Sài Gòn, phía Tây Bắc giáp đất dân cư và đường ĐT782, phía Nam giáp kênh Chính Đông, phía Đông Nam giáp khu di tích Bời Lời.[3] Quy mô KCN: diện tích 2.839,97 ha, bao gồm 3 khu: Khu Phước Đông ở phía Nam, khu Bời Lời ở phía Bắc và khu đô thị - dịch vụ nằm ở giữa.
Tọa độ từ 110o7’40,88” đến 110o11’56,6” vĩ độ Bắc và từ 106o19’10,29” đến 106o22’43,62” kinh độ Đông.